Thuyết Vô Ngã trong Phật giáo
Thuyết Vô Ngã
trong Phật giáo
Lời nói đầu:
Người Kitô hữu luôn luôn tin mỗi người
có một linh hồn bất tử, tức một «cái tôi» hay «cái ngã» trường tồn suốt cuộc
đời và tiếp tục trường tồn sau khi chết. Trái lại, theo giáo huấn về «thuyết vô
ngã» của Đức Phật, thì ngài không phủ nhận «cái tôi», mà phủ nhận sự trường
tồn, sự bất biến của «cái tôi» trong thời gian. Đó là một điều mà đối với nhiều
Kitô hữu, kể cả nhiều Phật tử, quả là khó hiểu hay khó chấp nhận. Vì thế, theo
chiều hướng của Công đồng Vatican II trong Sắc lệnh Ad Gentes (Truyền giáo) và
Tuyên ngôn Nostra Aetate (Liên lạc với các tôn giáo ngoài Kitô giáo)
khuyến khích Kitô hữu tìm hiểu lập trường tâm linh của những tôn giáo khác để
đối thoại, cộng tác và truyền giáo, tác giả xin trình bày về «thuyết vô
ngã» theo cách hiểu của người Phật tử để người Kitô hữu không cảm thấy nó
khó hiểu hay khó chấp nhận nữa.
o0o
Đặt vấn đề
Khác hẳn với mọi ý nghĩ bình thường,
Phật Giáo chủ trương không có linh hồn, không có «cái ngã» hay «cái
tôi» như một thực tại tâm linh bất biến thường tồn, làm chủ thể
trong mọi thay đổi xác thân. Phật Giáo không chủ trương có một «cái tôi» hay
một linh hồn duy nhất mặc lấy những thân xác khác nhau qua các kiếp luân hồi
giống như một người thay đổi áo: dù mặc nhiều áo khác nhau, nhưng từ đầu đến
cuối vẫn chỉ là một người không thay đổi. Do đó, vấn đề phải được đặt ra là:
người trong kiếp này và người của kiếp sau có phải cùng là một người không? Nếu
không có một linh hồn duy nhất trong hai thân xác của hai kiếp ấy, làm sao có
thể nói được cụm từ «kiếp trước của tôi», vì cụm từ đó dường như giả
thiết rằng chỉ có một «cái tôi» duy nhất trong cả hai thể xác ấy? và sau
khi thể xác tôi chết rồi thì cái gì đi tái sinh cho kiếp sau của tôi? Nếu không
có một linh hồn bất biến làm nền tảng thì cái gì bị luân hồi?
Là một... nhưng không
phải là một, cũng không phải là hai
Muốn hiểu được điều đó, cần biết rằng
Phật Giáo chủ trương: ngay cả trong một kiếp, như kiếp tôi đang sống đây, «cái
tôi» lúc 5 tuổi và «cái tôi» hiện tại không thể hoàn toàn đồng nhất
hay là một với nhau được, vì lúc 5 tuổi tôi rất khác với bây giờ về đủ mọi
phương diện: tuổi tác, cách suy nghĩ, tính tình, tài năng, khuynh hướng, v.v…
Thậm chí tôi không còn nhớ lúc 5 tuổi thì con người tôi thế nào nữa. Nếu tôi
lúc 5 tuổi và tôi bây giờ là một, đồng nhất với nhau, thì tất nhiên hai «cái
tôi» đó phải giống nhau, không có gì thay đổi, và tôi bây giờ phải
hoàn toàn nhớ được hồi 5 tuổi tôi ra sao. Tương tự như vậy, tôi trước đây một
tiếng, hay 5 phút, hay một giây, không thể hoàn toàn đồng nhất với tôi bây giớ
được… Chắc chắn vào những thời điểm khác nhau, «cái tôi» của
tôi không đồng nhất, không là một, nhưng cũng không thể nói là hai hay là nhiều
được, vì tôi vẫn thấy, vẫn nhìn nhận rằng tôi bây giờ hay tôi thời trước thì
đều là tôi cả. Tôi vẫn chỉ vào tấm hình của tôi lúc 5 tuổi, 10 tuổi, 20 tuổi…
và nói đó là tôi, bất chấp những «cái tôi» ấy có nhiều cái
khác nhau. Đây là một thực tế không có chỗ đứng trong luận lý học
Tây Phương, vì theo luận lý này không có chuyện vừa là một lại vừa là hai, vừa đồng nhất lại vừa
không đồng nhất, vừa là hai lại vừa không là hai.
Khoa học cho biết xác thân của tôi
trong vòng 7 năm là mọi tế bào đều thay đổi hết. Như thế thì rõ ràng là xác
thân của tôi lúc 5 tuổi và xác thân của tôi lúc 40 tuổi (hơn nhau 35 năm) làm
sao có thể là một được? Cũng vậy, chiếc xe gắn máy của tôi mua mấy chục năm
rồi, đã dần dần thay đổi hết mọi bộ phận, đến nỗi không còn một bộ phận nào
trong đó là bộ phận nguyên thủy hồi tôi mua. Như thế thì làm sao tôi vẫn bảo
chiếc xe bây giờ cũng chính là chiếc xe thời đó được? Tại bờ biển, tôi đưa mắt
theo dõi một con sóng lớn từ ở ngoài khơi chạy vào bờ. Khi nó vào tới sát bờ,
tôi vẫn coi nó chính là con sóng ở ngoài khơi, vì mắt tôi đã đi theo nó từ
ngoài đó vào bờ không gián đoạn, dù tôi vẫn biết rằng con sóng đi tới đâu thì
nhận lấy nước ở chỗ đó làm vật liệu cho mình. Nếu xét về vật liệu, thì con sóng
ở ngoài khơi và con sóng vào gần bờ hoàn toàn khác nhau, không có một phân tử
nước nào chung cả. Thế nhưng tôi vẫn có lý để coi hai con sóng đó là một! hay
như dân tôc Việt Nam ta, từ 4000 năm về trước cho tới nay, mặc dù khác biệt
nhau rất xa giữa người Việt nguyên thủy và người Việt ngày nay, nhưng vẫn được
coi là duy nhất! Tại sao vậy?
Vì trong tất cả những trường hợp
trên, có sự liên tục không gián đoạn trong sự chuyển
biến từ tình trạng này sang tình trạng kia, cái này qua cái kia, và sự chuyển
biến đó xảy ra một cách tiệm tiến, không đột ngột. Tại hai
thời điểm kế tiếp nhau hay gần nhau, tuy có sự thay đổi, nhưng phần thay đổi
không đáng kể so với phần không thay đổi làm nền tảng để làm cho nó vẫn còn là
nó. Và luôn luôn có một tương quan nhân quả giữa các
tình trạng khác nhau tại các thời điểm. Tình trạng trước là nguyên nhân cho
tình trạng sau. Nếu không có tình trạng trước thì không thể có tình trạng sau.
Như bản thân tôi, nếu không có «cái tôi» lúc 5 tuổi thì không thể có «cái
tôi» bây giờ. Nếu hồi 5 tuổi tôi đã sống khác với thực tế quá khứ của tôi
lúc đó, ắt là bây giờ, tôi đã không giống như «cái tôi» thực tế hiện
tại. Đó là điểm chính yếu khiến tôi thấy tôi lúc 5 tuổi và tôi bây giờ chỉ là
một «cái tôi». Như vậy, theo Phật Giáo, không nhất thiết phải có một
linh hồn trường tồn bất biến làm nền tảng để cho từ đầu đến cuối những thực thể
khác nhau vẫn được coi là một. Cũng tương tự như Nước Việt Nam hay
dân tộc Việt Nam đâu có nhất thiết phải có một cái hồn nước vĩnh cửu,
bất biến làm nền tảng thì mới có thể gọi dân Việt Nam xưa và dân
Việt Nam nay là một!
Cái lý của Phật giáo
Theo Phật Giáo, «cái tôi» mà ta
cảm nghiệm được không phải là một linh hồn trường tồn bất biến, mà là một
dòng «tưởng» liên tục trôi đi như một dòng sông. Mỗi «sát-na
tư tưởng» hay một «khoảnh khắc tư tưởng» (tạm gọi như thế)
nổi lên rồi biến mất nhường chỗ cho «khoảnh khắc tư tưởng» kế
tiếp. Khoảnh khắc này là nhân cho khoảnh khắc sau,
và là quả của khoảnh khắc trước. Mỗi khoảnh khắc tư
tưởng trong giây lát sinh, trụ, rồi diệt, và trong khi diệt, chuyển
tất cả năng lực và cảm giác đã ghi nhận được cho khoảnh khắc tư tưởng kế
tiếp. Mỗi khoảnh khắc tư tưởng mới gồm những năng lực tiềm
tàng của khoảnh khắc trước và thêm vào đó chút gì khác. Đến
lúc chết, khoảnh khắc tư tưởng cuối cùng chấm dứt, cũng như
trong đời sống mỗi khoảnh khắc tư tưởng đều phải diệt, để
nhường chỗ cho khoảnh khắc tư tưởng kế tiếp phát sinh trong
giây lát, mỗi khoảnh khắc tư tưởng đều bao hàm thức của
nó.
Mỗi thức chứa
toàn bộ những kinh nghiệm trong quá khứ do khoảnh khắc tư tưởng trước
để lại. Vậy cái thức mới trong kiếp sống mới chứa tất cả những kinh nghiệm, cảm
giác ghi nhận được trong các kiếp quá khứ. Như thế, tất cả mọi tiềm năng đều
được chuyển từ kiếp này sang kiếp khác, mặc dầu vật chất bị tan rã. Vì lẽ ấy
đôi khi có người nhớ được kiếp quá khứ của mình. Nếu trí nhớ chỉ tùy thuộc nơi
khối não, tất không ai có thể nhớ được tiền kiếp của mình. Như vậy, giữa kiếp
trước và kiếp sau vẫn có sự liên tục về khoảnh khắc tư tưởng,
và khoảnh khắc tư tưởng trong kiếp mới vẫn thừa kế toàn bộ di
sản tinh thần từ kiếp trước để lại. Do đó, «cái tôi» của kiếp trước và «cái
tôi» của kiếp sau vừa là khác mà cũng vừa có thể coi là một, tựa như «cái
tôi» trong hai thời điểm khác nhau của cùng một kiếp vậy. Cứ như thế, kiếp
này qua kiếp khác, dù vào cảnh thiên, nhân, hay súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục
chăng nữa, không cần phải có duy nhất một linh hồn bất biến nào trường tồn qua
nhiều kiếp sống khác nhau cả.
Như vậy, luôn luôn có một «cái tôi»
của một thân xác khác chịu tất cả mọi quả báo của «cái tôi» của thân xác
này. «Cái tôi» này là nhân gây nên «cái tôi» kia, và «cái tôi»
kia là quả của «cái tôi» này, y như «cái tôi» hiện tại của tôi
bây giờ phải hay được lãnh nhận hậu quả của những gì mà «cái tôi» của
tôi hồi trước đã làm. Chẳng hạn «cái tôi» năm trước lười học thì «cái
tôi» năm sau thi trượt, «cái tôi» năm trước chăm học thì «cái tôi»
năm sau thi đỗ. Tôi nhìn nhận hai «cái tôi» ấy đều là tôi cả, nhưng rõ
ràng chúng khác nhau: «cái tôi» bây giờ không thể sửa đổi gì được «cái
tôi» trước, và có thể cũng không đồng ý về việc làm của «cái tôi»
trước. Vì thế, «cái tôi» kiếp sau không thể cảm nghiệm được, thậm chí
không biết gì về «cái tôi» kiếp trước. Nếu tôi hiểu ra và nhìn nhận hai
«cái tôi» đều là tôi cả thì tôi thấy không có sự bất công nào cả.
Một minh họa giúp dễ
hiểu
Để dễ hiểu về việc không cần có linh
hồn mà «cái tôi» sau vẫn coi «cái tôi» trước là chính mình nhờ
chuyển di qua những khoảnh khắc tư tưởng, ta thử nêu lên một minh
họa khác. Sự việc đó giống như một người dùng máy cassette để thâu băng. Trước
hết anh ta thâu trực tiếp một số bài nhạc vào trong băng A. Sau đó anh sang
toàn bộ những bài ca trong băng A vào băng B và hủy bỏ băng A. Anh lại tiếp tục
thâu trực tiếp một số bài ca mới vào băng B. Rồi lại sang toàn bộ băng B sang
băng C. Cứ tiếp tục như thế mãi. Cho tới lúc nào đó, chẳng hạn tới băng M, ta
thấy tất cả những băng A, B, C, D… I, K, L đều đã bị hủy bỏ, nhưng toàn bộ
những bài ca trong các băng đó đều có trong băng M, mặc dù xét về vật chất,
băng M không nặng hơn các băng trước một microgram nào cả, mặc dù rất nhiều bài
hát được thếm vào so với những băng trước. Giả như băng M có khả năng suy tư và
ý thức được, nó sẽ thấy các băng A, B, C… trước cũng chính là nó… Mỗi cuốn băng
tượng trưng cho một kiếp sống. Mỗi kiếp sống thu thập được một số kinh nghiệm
thêm vào những kinh nghiệm đã có trong các kiếp trước, đồng thời trao toàn bộ
kinh nghiệm ấy cho kiếp sau.
Sở dĩ có thể làm được chuyện ấy là nhờ
khả năng thu nhận, tàng trữ âm thanh của loại băng cassette. Còn khả năng thu
nhận và tàng trữ kinh nghiệm từ kiếp này qua kiếp khác của chúng sinh, Phật
Giáo gọi là Alạida thức. Có thể nói alạida thức chính là cái đi tái sinh, là
cái bị luân hồi. Và Alạida thức đó không thể gọi là linh hồn được. Vả lại
Alạida thức thay đổi từng giây phút trong cuộc đời, cứ mỗi lúc lại thu nhận và
tàng trữ thêm. Còn khả năng làm cho ý thức nhìn nhận những yếu tố cấu tạo nên
mình là «tôi», cũng như nhận những «cái tôi» khác nhau từng
thời điểm một là một «cái tôi» duy nhất, khả năng ấy được Phật Giáo gọi
là Mạt-na thức. Điều lý thú trong minh họa này là tất cả những gì được thêm vào
cuốn băng cuối cùng kia không làm cho cuốn băng ấy nặng thêm chút nào. Như vậy,
những gì được truyền sang có vẻ như không phải là vật chất. Người duy tâm sẽ
nghĩ nó là tinh thần. Vì truyền sang là thêm vào, mà thêm vào nếu là vật chất
ắt phải làm cho nặng thêm. Mà không phải vật chất ắt là tinh thần. Nhưng đi sâu
vào vấn đề hơn ta thấy có sự thay đổi cách sắp xếp về từ học: mặt băng bị nhiễm
từ. Cũng tương tự như khi ta chụp hình, cuộn phim sau khi chụp không nặng hơn
trước khi chụp, nhưng mặt phim đã bị ánh sáng tác dụng làm thay đổi tính chất
hóa học hay hóa tính của mặt phim. Nhờ vậy phim mới ghi nhận được hình ảnh. Cái
thêm vào không hẳn là vật chất nhưng là một cái gì do vật chất mà thành, và
đương nhiên nhìn xa hơn ta thấy phải có sự góp phần của người chụp hay người
thâu băng thì hình ảnh hay âm thanh mới ghi lại được trong băng (tác nhân bên
ngoài).
Chuyển di tư tưởng từ
kiếp trước sang kiếp sau
Theo những điều đã nói trước
đây, «khoảnh khắc tư tưởng» vẫn liên tục sinh, trụ, diệt trong
cùng một thời gian, một năm, một kiếp hay khi chuyển từ kiếp này qua kiếp
khác (tức hoạt động của tâm thức luôn luôn có, cho dẫu ý thức hay không ý
thức) . Do đó, những khoảnh khắc tư tưởng cuối cùng của một
kiếp đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định tức khắc cảnh giới hay
hoàn cảnh để đầu thai cho kiếp sau. Nếu vào giây phút hấp hối, một người phúc
đức đáng đầu thai ở cảnh thiên lại có những tư tưởng
không tốt, hay tưởng tượng những điều không tốt, thì người đó có thể sinh vào
những cảnh giới xấu, như atula hay súc sinh,
hay cảnh người nhưng điều kiện ban đầu ít nhiều
bị hẩm hiu. Tuy nhiên, vì nghiệp quả của người đó, nên dù sống trong những
cảnh giới xấu hay điều kiện ban đầu hẩm hiu, nhưng số phận của chúng sinh ấy
sướng hơn đồng loại của mình rất nhiều. Thật vậy, ta vẫn thấy có những con vật
(chó, mèo) có cuộc đời vật chất cũng như tinh thần sướng hơn những con vật
khác, thậm chí sướng hơn rất nhiều người trên trần gian.
Trái lại, nếu vào giây phút hấp hối,
một người xấu lại có được những tư tưởng tốt, hay tưởng tượng được những điều
thánh thiện, thì có thể tái sinh vào những cảnh giới tốt, hay được những điều
kiện sống ban đầu rất thuận lợi, nhưng vì nghiệp của họ
xấu, nên số phận của họ vẫn khổ đau hơn những đồng loại của mình. Thật vậy, ta
vẫn thấy biết bao kẻ giầu sang phú quí, thuộc hàng vua chúa, nhưng đời sống
chẳng hạnh phúc chút nào, cuộc đời gặp đầy nghịch cảnh, hoặc về sau trở thành
kẻ bần cùng…
Vì thế, vào những giây phút cuối cùng
cuộc đời của người thân nhân mình, người Phật Tử phải lưu tâm giúp đỡ họ có
những tư tưởng tốt, nghĩ về những hình ảnh đẹp, cao thượng, để họ có thể vãng
sinh về những cảnh giới tốt đẹp, tạo điều kiện dễ dàng cho họ tiến tới mục đích
giải thoát.
Nguyễn Chính Kết

Comments
Post a Comment