Giáo huấn của Giáo Hội về Xã hội

 

Giáo huấn của Giáo Hội

về Xã hội

(tiếp cận lịch sử)

 

Mở đầu

Mười văn kiện của Giáo Hội về vấn đề xã hội

1. Quá trình nhận thức của giáo hội về vấn đề xã hội

2. Thời đại Đức Giáo Hoàng Lêô XIII (1876– 1903) và thông điệp «Tân Sự» (1891)

3. Thời đại Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922 – 1939) và thông điệp «Tứ Thập Niên» (1931)
Ghi chú chuyên đề về công bằng xã hội và công ích

4. Thời đại Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939– 1958)
Ghi chú chuyên đề về Nguyên tắc Bổ Trợ

5. Thời đại Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958– 1963)

6. Thời Đại Công Đồng Vatican II (1962– 1965)

7. Thời đại Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963– 1978)

8. Thời đại Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II (1978 - 2005)

9. Tổng kết một thế kỷ Giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề xã hội

10. Linh đạo lao động

 

MỞ ĐẦU

I. Tiếp cận giáo huấn xã hội của Giáo Hội theo quan điểm lịch sử

1. Tiếp cận nghĩa là đến gần và tiếp xúc với Giáo Huấn xã hội của Giáo Hội, không phải với tham vọng quán triệt toàn bộ giáo huấn ấy, nhưng với mục đích khiêm tốn khơi gợi hoặc củng cố nơi các học viên mối quan tâm về các vấn đề xã hội. Và nếu được, mở đường cho họ đi vào nghiên cứu trực tiếp các văn kiện được định vị trong bối cảnh thời đại của chúng.

2. Theo quan điểm lịch sử, nghĩa là trình bày quá trình hình thành và tiến hóa của Giáo Huấn xã hội của Giáo Hội theo thứ tự thời gian, chứ không phải quan điểm hệ thống hóa theo chủ đề và theo các mối quan hệ logic giữa các chủ đề ấy.

3. Chính vì hai lý do vừa nêu, chúng tôi ưu tiên sử dụng thuật ngữ «Giáo Huấn xã hội của Giáo Hội» nhiều hơn thuật ngữ «Học thuyết xã hội của Giáo hội». Thuật ngữ thứ hai này cũng đúng và được sử dụng trong các văn kiện của Giáo Hội, nhưng nó bao gồm hàm quan điểm hệ thống hóa, nhiều hơn quan điểm lịch sử.

II. Tầm quan trọng của môn học này.

Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII trong thông điệp «Mẹ Và Thầy» (1961), kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa học tập và phổ biến Giáo Huấn xã hội của Giáo Hội.

Năm 1989 Thánh Bộ Giáo Dục Công giáo ra huấn thị nêu lên đường hướng học hỏi và giảng dạy Giáo Huấn xã hội của Giáo Hội trong các chủng viện, học viện và cho các thành phần Dân Chúa. Huấn thị này triển khai chỉ thị của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, được các Đức Giáo Hoàng kế vị tái khẳng định lý do sâu xa chứng minh tầm quan trọng của môn học này là các chuyển biến xã hội trên thế giới từ một thế kỷ nay đang chứng tỏ rằng Giáo Huấn xã hội của Giáo Hội là đúng, và càng ngày càng được nhiều người chấp nhận. Nói cách khác, mô hình xã hội đang được áp dụng trong phần lớn các quốc gia, kể cả các nước xã hội chủ nghĩa, càng ngày càng xích lại gần với các nguyên tắc được Giáo Hội khẳng định trong Giáo Huấn xã hội của mình.

Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II khẳng định thêm rằng Giáo Huấn xã hội của Giáo Hội là một môn học thuộc khoa thần học, đặc biệt thần học luân lý (BCN số 55). Nhất là nó là một khí cụ của công cuộc Phúc Âm hóa (BCN số 54).

Phục Sinh 1993.

 

Mười văn kiện của Giáo Hội 
về vấn đề Xã Hội

 

1. Thông điệp «TÂN SỰ» (Rerum Novarum) của Đức Lêô XIII (1891).

2. Thông điệp «TỨ THẬP NIÊN» (Quadragesimo Anno) của Đức Piô XI (1931).

3. Thông điệp «MẸ VÀ THẦY» (Mater et Magistra) của Đức Gioan XXIII (1961).

4. Thông điệp «HÒA BÌNH TRÊN TRÁI ĐẤT» (Pacem in Terris) của Đức Gioan XXIII (1963).

5. Hiến chế «VUI MỪNG VÀ HY VỌNG» (Gaudium et Spes) của Công đồng Vatican II (1965).

6. Thông điệp «PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC» (Populorum Progressio) của Đức Phaolô VI (1967).

7. Tông thư «BÁT THẬP NIÊN» (Octogesima Adveniens) của Đức Phaolô VI (1971).

8. Thông điệp «LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI» (Laborem Exercens) của Đức Gioan-Phaolô II (1981).

9. Thông điệp «MỐI BẬN TÂM VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI» (Sollicitudo Rei Socialis) của Đức Gioan-Phaolô II 1987.

10. Thông điệp «BÁCH CHU NIÊN» (Centesimus Annus) của Đức Gioan-Phaolô II (1991).

 

Ngoài ra còn có:

● 5 văn kiện được ban hành kỷ niệm thông điệp «Tân Sự».

Như vậy, 

– Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20: xuất hiện 2 văn kiện lớn.

– Thập kỷ 1961– 1971: xuất hiện 5 văn kiện lớn.

– Thập kỷ 1981– 1991: xuất hiện 3 văn kiện lớn.

 

Chương 1

Quá trình nhận thức của Giáo Hội về vấn đề xã hội

 

Kinh thánh là nguồn ánh sáng soi dẫn các suy tư của Giáo Hội về vấn đề nhân sinh và xã hội.

I. Giai đoạn Cựu Ước 

Qua sách Cựu ước, Giáo Hội nhận rằng biến cố tạo thành Dân Chúa là Cuộc Xuất hành mang hai ý nghĩa lớn:

1. Thiên Chúa giải phóng dân Ngài khỏi ách nô lệ Ai cập;

2. Thiên Chúa ban Giao ước Sinai, với bảng Thập giới nêu lên điều luật căn bản về đức công bình và bác ái.

Đối với Thiên Chúa: giới răn 1-3.

Đối với tha nhân: giới răn 4-10.

Từ biến cố «lập dân» ấy, các tác giả thánh ký đã suy tư dưới tác động của Thánh Linh và viết ra bộ Kinh Thánh Cựu Ước, gồm 3 nội dung lớn:

1. Những lời kinh nguyện (Thánh vịnh – Thánh ca).

2. Những lời giáo huấn tiên tri:

Triển khai ý nghĩa của Giao ước.

Kêu gọi Dân Chúa trung thành với Giao ước.

Hướng lòng Dân Chúa về thời đại Đấng Thiên Sai.

3. Những suy tư minh triết

a) Về nguồn gốc vạn vật (mầu nhiệm tạo dựng).

Về chân tính con người với phẩm giá cao quí xây trên hình ảnh Thiên Chúa được khắc ghi trong bản thể, và với sự bần khốn do tội lỗi gây ra (đó là huyền nhiệm con người với khía cạnh ân sủng và tội lỗi, ánh sáng và bóng tối).

b) Về lịch sử Dân Chúa nhìn dưới ba góc độ:

+Chính trị (các triều đại Vua) 

+Luân lý cá nhân và cộng đồng.

+Đời sống phượng tự.

Cựu ước đã khẳng định những chân lý cơ bản về đời sống con người và xã hội như:

● Phẩm giá bất khả di nhượng của nhân vị (xem St 1:27; 5:1-2), cơ sở của sự bình đẳng giữa mọi người.

● Giá trị của lao động sáng tạo nhằm làm chủ thiên nhiên (xem St 2:15; 1:28).

● Bổn phận thực thi công bằng bác ái, nhất là đối với người nghèo mà Cựu ước xác định cách cụ thể trong ba diện: Cô nhi, quả phụ và khách ngoại kiều. Is 58,1-2 là đoạn văn đẹp nhất về chay tịnh mang ý nghĩa xã hội (xem Am 5:21-24).

● Giá trị của sự tự do và giải phóng.

● Giá trị của tinh thần nghèo khó hiểu như là sự cởi mở với Thiên Chúa và tín thác vào Ngài (xem Linh đạo người nghèo của Thiên Chúa).

II. Giai đoạn Tân ước

1. Đức Giêsu đảm nhận tất cả các giá trị của Cựu ước (xem Mt 5:17) và sống các giá trị ấy tới mức hoàn hảo. Ngài đề ra mẫu người mới là mẫu người Phúc Âm mà chính Ngài đã thể hiện nơi bản thân mình. Mẫu người đó được mô tả trong Bài Giảng Trên Núi, đặt biệt trong bài Tám Mối Phúc Thật (Mt 5:3-12). Hành vi đầu tiên và căn bản của người môn đệ để đi vào việc xây dựng con người mới ấy là «hoán cải và tin vào Phúc Âm» (xem Mc 1:15).

a. Hoán cải là:

Từ bỏ những hình ảnh méo mó hoặc bất toàn về Thiên Chúa để đón nhận Vị Thiên Chúa chân thật của Đức Kitô.

Từ bỏ sự ích kỷ cá nhân để đi vào đức bác ái mở rộng với mọi người

b. Tin vào Phúc Âm là gắn bó với Đức Giêsu và làm theo lời Ngài dạy.

2. Các tác giả Tân ước dựa vào mầu nhiệm Chúa Kitô (cụ thể là mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Vượt Qua gồm cái chết và việc sống lại của Ngài) để suy tư về thực tại con người và lịch sử. Mầu nhiệm Nhập Thể và Vượt Qua của Đức Kitô nâng cao phẩm giá của mỗi con người và các thực tại trần thế, đồng thời mang lại cho lịch sử thế giới một định hướng tích cực, với đích điểm là cuộc tái lâm của Đức Kitô để hoàn tất lịch sử.

III. Thời các giáo phụ (thế kỷ 2-8)

Ghi chú: 

Thời Giáo Phụ: từ thế kỷ 2-8

Giáo phụ là những nhà thần học có giáo lý vững chắc và chính thống và thường là có đời sống thánh thiện và gương mẫu thuộc thế kỷ đầu của Giáo Hội. Nơi các ngài có sự nhất trí cao về các điểm giáo lý căn bản của Giáo Hội. Do đó, Giáo Hội công nhận uy tín đặc biệt của các ngài.

● Các Giáo phụ viết bằng tiếng Hy Lạp gồm có: Thánh Clêmentê thành Rôma; Thánh Ignatiô thành Antiôkia; Thánh Pôlicapô; Thánh Papias; Thánh Justinô; Thánh Irênê; Thánh Hypôlitô; Thánh Clémentê thành Alexandria; Ô. Origèn; Thánh Eusêbiô thành Cêzarê; Thánh Athanasiô; Thánh Basiliô thành Cêzarê; Thánh Grêgôriô thành Nazianze; Thánh Grêgôriô thành Nyssa; Thánh Gioan Kim Khẩu; Thánh Cyrillô thành Alexandria, v. v…

● Các giáo phụ viết bằng tiếng La-tinh, nổi bật nhất là: Lm Tectulianô; Thánh Cyprianô; Thánh Hilariô; Thánh Martinô thành Tour; Thánh Hiêrônimô; Thánh Ambrôsiô; Thánh Augustinô …

Các giáo phụ nuôi dưỡng tư tưởng của mình bằng Kinh Thánh nên giáo huấn xã hội của các ngài tập trung đặc biệt vào hai đề tài:

a. Phẩm giá và quyền lợi của người nghèo mà mọi người phải tôn trọng.

b. Của cải trên trái đất là để cho mọi người hưởng dùng; quyền tư hữu tuy chính đáng và cần thiết nhưng không có giá trị tuyệt đối.

Từ hai luận điểm đó, các ngài phê phán gay gắt mọi hình thức bóc lột và hám lợi, nhất là bóc lột người nghèo.

Song song với lời giảng dạy, các giáo phụ đã có công khởi xướng những công trình cứu thế (bệnh viện, cô nhi viện, lữ quán) bù đắp những thiếu sót trong cơ cấu tổ chức của xã hội trần thế.

Giáo huấn về hoạt động của các ngài đã xây dựng nên một Học thuyết nhân bản Kitô giáo, góp phần hữu hiệu xóa bỏ chế độ nô lệ là chế độ thường được coi như một nhân tố quan trọng của hệ thống kinh tế từ thời thượng cổ đến thời cận đại.

 Đức Giáo Hoàng Lêô XIII trong luân thư ngày 20-11-1890 Catholicae Ecclesiae (Giáo Hội Công giáo) đã đúc kết lập trường của Giáo Hội Công giáo, nhất là từ thời thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả (540– 604) cho đến thời Đức Giáo Hoàng Lêô XIII trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ nô lệ, bênh vực quyền bình đẳng và phẩm giá của mọi người. Tiếng nói của Giáo Hội đã góp phần xóa bỏ chế độ nô lệ tại Brazil (xem phim Nô tỳ Isaura). Cùng thời đó Đức Hồng Y Lavigerie tranh đấu mạnh mẽ chống lại việc buôn bán nô lệ tại Châu Phi theo hướng Đức Giáo Hoàng Lêô XIII.

IV. Từ thời Trung Cổ đến năm 1890.

Sự phát triển của khoa thần học Công giáo (với tên tuổi nổi bật là thánh Tôma) đã chuẩn bị những tiền đề cho học thuyết xã hội của Giáo Hội. Các thần học gia kinh viện tiếp tục triển khai học thuyết nhân bản Kitô giáo của các giáo phụ, với khoa thần học luân lý khẳng định phẩm giá, các bổn phận và quyền lợi của con người trong quan hệ với bản thân, tha nhân và Thiên Chúa. Trong lãnh vực hoạt động, vô số hội dòng hướng về công việc từ thiện, giáo dục và truyền giáo, không những đã thoa dịu nỗi đau khổ của người nghèo, mà còn gây ý thức cho họ về nhân phẩm, nhân quyền, công lý và tự do, nghĩa là góp phần hữu hiệu vào công cuộc giải phóng người nghèo và người bị áp bức.

V. Khởi điểm của vấn đề xã hội:

Giới thợ thuyền và lao động.

Sách Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước) là kho tàng chính chứa đựng những ánh sáng cần thiết để soi rọi các suy tư về vấn đề nhân sinh và xã hội, nhưng đời sống thực tế của Giáo Hội cũng đã bị chi phối bởi những triết lý và những tập tục xã hội không mấy ăn khớp với tinh thần Thánh kinh. Qua giòng lịch sử, Giáo Hội không ngừng đấu tranh với chính mình và với hoàn cảnh khách quan để nhận thức đúng hơn về các vấn đề nhân sinh và xã hội. Giáo Hội đã tiến hóa. Đó là một dấu chỉ sức sống của Giáo Hội và một bằng chứng cho thấy tác động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. Chúng ta có thể minh chứng điều đó bằng một thí dụ cụ thể: Quan điểm của Giáo Hội về Lao động:

Song song với Kinh Thánh, luồng tư tưởng triết học Hy Lạp và La Mã đã ảnh hưởng trên tư duy và đời sống Giáo Hội. Riêng về lao động chân tay, triết lý cổ xưa của các nền văn minh ngoài Kitô giáo đã có một quan niệm tiêu cực và bi quan, khi cho rằng lao động chân tay là bất xứng với con người tự do. Quan niệm này là một hệ luận của thái độ khinh thường vật chất khá nổi bật trong triết lý của Platon và Manichée. Cách nhìn tiêu cực này làm phát sinh trong Giáo Hội xu hướng tuyệt đối hóa ý nghĩa của Lời Thiên Chúa nguyền rủa công việc lao động của loài người sau khi phạm tội (xem St 3,17-19) đến mức coi lao động chân tay như một hình phạt cho tội lỗi. Thực ra theo Kinh thánh, một trong các hậu quả của tội lỗi là sự khó khăn vất vả khác thường mà con người gặp phải trong quan hệ với đất đai. Còn chính mối quan hệ «Lao Động Của Con Người» với đất đai thì đã được Thiên Chúa thiết lập như một nhiệm vụ quang vinh của loài người với sứ mạng canh tác và canh giữ vườn Êđen (St 2:15), trong sứ mạng tổng quát Thiên Chúa giao cho cả người nam và người nữ: «Sinh sôi nẩy nở lấp đầy trái đất và làm chủ trái đất» (St 1:28). Tư tưởng này của Kinh Thánh chứa đựng những yếu tố rất tích cực và sâu sắc của lao động, nhưng đã không được thần học triển khai. Trái lại trong thời gian lâu dài thần học chỉ triển khai khía cạnh khổ chế của lao động như một phương tiện lập công đền tội. Khía cạnh này có thật, nhưng việc nhấn mạnh và đề cao nó quá đáng cũng tạo ra nơi nhiều thế hệ Kitô hữu thái độ «trốn thoát» nhiệm vụ phát triển đời sống xã hội và canh tác mảnh vườn Êđen là trái đất và thế giới này. Khi chủ nghĩa Mácxít phê phán thái độ tôn giáo đó như một hình thức tha hóa con người và làm cho con người vong thân thì hẳn là không phải không có cơ sở.

Nhưng may thay tư duy thần học của Giáo Hội đã tiến hóa, với một bước ngoặt quan trọng là sự suy nghĩ về lao động công nghệ (travail industriel) như một cách ứng dụng khoa học kỹ thuật từ đầu thế kỷ 19 tại Châu Âu. Cuộc cách mạng công nghệ làm xuất hiện một động cơ mới biến đổi đời sống xã hội cách sâu sắc, đó là lao động công nghệ và việc sử dụng máy móc. Máy móc là sự nối dài trí tuệ và bàn tay con người. Chúng nhân lên gấp bội năng suất lao động xét về số lượng và chất lượng sản phẩm.

Lao động công nghệ thể hiện tính sáng tạo của con người rõ nét hơn lao động nông nghiệp, bởi vì trong nông nghiệp, sức lực của con người được sử dụng chủ yếu để giúp thiên nhiên làm ra sản phẩm của nó; còn trong công nghệ chính con người trực tiếp sáng tạo ra sản phẩm, phía thiên nhiên chỉ cung cấp nguyên liệu cần thiết.

Nhưng cuộc cách mạng công nghệ đã làm phát sinh những vấn đề lớn và nghiêm trọng cho đời sống con người, nhìn dưới góc độ cá nhân và tập thể, ví dụ vấn đề quyền lợi, sức khỏe của người lao động; quan hệ giữa chủ và thợ; cách tổ chức và điều hành xí nghiệp. Chính trong bối cảnh đó Giáo Hội đã chính thức lên tiếng bênh vực giới thợ thuyền qua thông điệp đầu tiên «Tân Sự» của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII năm 1891. Thông điệp lừng danh này là khởi đầu giáo huấn của Giáo Hội về xã hội với hai chiều hướng rõ rệt đi song song nhau:

● Giáo Hội bênh vực quyền lợi của giới lao động

● Giáo Hội triển khai một nền thần học về lao động và các vấn đề có liên quan tới lao động.

Trong quá trình suy tư thần học về lao động, Hiến chế «Vui Mừng Và Hy Vọng» của Công đồng Vatican II đánh dấu một đỉnh cao như sẽ trình bày trong chương VI.

Luật Giáo Hội về sự kiêng việc xác cũng đã tiến hóa một cách có ý nghĩa:

● Giáo luật cũ 1917 khoản 1248 còn gọi việc lao động chân tay là những công việc của người nô lệ mà người tín hữu không được phép làm trong các ngày Chúa nhật và lễ buộc (opera servilia).

● Bộ Giáo luật mới 1983 khoản 1247 phản ánh một quan niệm mới, uyển chuyển và tích cực hơn về lao động chân tay: Vào các ngày Chúa nhật và Lễ buộc khác, các tín hữu buộc phải:

Tham dự thánh lễ.

Ngoài ra buộc phải kiêng những công trình và những việc ngăn trở:

– Sự thờ phượng Thiên Chúa.

– Niềm vui đặc thù của ngày của Chúa, 

– Việc thư giãn cần thiết cho tâm trí và thân xác.

Như thế người ta thấy rằng phải chờ đến Bộ giáo luật 1983, quan niệm tiêu cực và bi quan về lao động của một triết lý người Kitô giáo đã từng thấy trong nhiều Giáo Hội qua nhiều thế kỷ, mới bị loại trừ cách chính thức và dứt khoát.

 

Chương 2

THỜI ĐẠI ĐỨC GIÁO HOÀNG LÊÔ XIII (1876– 1903)
và THÔNG ĐIỆP «TÂN SỰ» (1891)

I. Bối cảnh xã hội thế kỷ XIX 
và việc ban hành thông điệp «Tân Sự»

1. Về mặt chính trị và xã hội:

Châu Âu thế kỷ XIX mang dấu ấn sâu đậm của cuộc cách mạng Pháp (1789):

● Đám đông quần chúng tiếp tục đấu tranh đòi quyền tự do, bình đẳng.

● Riêng tại Pháp tiếp tục diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai thể chế Quân chủ và Cộng hòa, hai thể chế ấy thay phiên nhau chiếm lĩnh chính quyền. Cuối cùng thể chế Cộng hòa đã thắng từ năm 1870 trở về sau.

2. Về mặt kinh tế:

Thế kỷ XIX đã chứng kiến cuộc cách mạng công nghệ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nền sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, nhất là công nghiệp.

1. Cuộc cách mạng công nghệ đã thúc đẩy sự phát triển chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh (Libéralisme économique) và chủ nghĩa này lại thúc đẩy cuộc cách mạng công nghệ, nhưng nó đã xô đẩy giới thợ thuyền vô sản vào tình trạng khốn cùng phi nhân, vì họ bị các ông chủ bóc lột mà không có được sự che chở của pháp luật; thậm chí họ cũng không có quyền lập nghiệp đoàn để đấu tranh và bênh vực cho quyền lợi chính đáng của mình. Vì thế chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh được mệnh danh là «chủ nghĩa tư bản hoang dã» (Capitalisme sauvage), (Xem «Bách Chu Niên» 8:3) 

2. Để phản ứng lại tình trạng đó, vào giữa thế kỷ XIX, Các-Mác đã kêu gọi mọi người vô sản ở khắp nơi hãy tập họp lại để tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc cách mạng chính trị và kinh tế nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội dẫn tới chủ nghĩa cộng sản, theo đó mọi tư liệu sản xuất cũng như chính quy trình sản xuất phải được tập thể hóa và quốc doanh hóa.

3. Nhìn dưới góc độ kinh tế, chủ nghĩa Mácxít và chủ nghĩa tự do cạnh tranh giống nhau ở điểm là cả hai đều dựa trên chủ nghĩa tư bản, theo đó «Lao Động Của Con Người» được sử dụng để tác động trên vật chất và trên vốn liếng – cũng gọi là tư bản (capital) – nhằm tạo ra tối đa của cải vật chất và lợi nhuận; Cả hai đều mang tính chất duy vật hiểu theo nghĩa chủ nghĩa duy vật thực tiễn; nhưng điểm khác nhau then chốt là một đằng trong chủ nghĩa tư bản nó mang tính chất tập thể và quốc doanh, còn đằng kia nó mang tính chất cá thể và dựa trên sự tự do cạnh tranh. Chúng ta sẽ thấy rằng Giáo Hội phê phán cả hai hình thái đó của chủ nghĩa tư bản.

3. Về mặt triết học (nhân sinh quan và vũ trụ quan)

Sự phát triển khoa học kỹ thuật mang lại cho con người:

1. Một ý thức sắc bén hơn về vai trò làm chủ của mình đối với thiên nhiên và lịch sử.

2. Một cái nhìn rất lạc quan về con người: con người mang bản tính thiện hảo và có khả năng vô tận trên đà tiến bộ khoa học kỹ thuật.

3. Thế kỷ XIX là thời đại hoàng kim của chủ nghĩa duy khoa học dưới ba dạng chính yếu là:

Chủ nghĩa duy thực (positivisme) của Auguste Comte

Chủ nghĩa Tiến hóa của Darwin

Chủ nghĩa Duy vật lịch sử và biện chứng của Mác-Ănghen.

4. Trong bối cảnh chung đó, Giáo Hội phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, và gặp phải thái độ thù nghịch từ nhiều phía: từ phía các quyền lực chính trị, đặc biệt từ phía ông Cavour và Vua Victor– Emmanuel II đang thống nhất nước Ý bằng cách chiếm đoạt các lãnh thổ của Giáo Hoàng năm 1861; từ phía các trào lưu theo đuổi chủ nghĩa duy khoa học và vô thần. Đức Giáo Hoàng Piô IX (1846-1878) đã phản ứng tự vệ:

Năm 1864, ngài ban hành thông điệp «Nỗi lo âu lớn lao» (Quantacura) kèm với «Syllabus» danh sách 80 luận điểm sai lầm của thời đại mới ngài bị lên án.

Năm 1870, Công đồng Vatican I định tín sự vô ngộ của Đức Giáo Hoàng nhìn dưới khía cạnh giáo huấn tín lý và luân lý.

1870 đầu cuộc chiến tranh Đức– Pháp, Vua Victor – Emmanuel II chiếm Roma và công bố Roma là thủ đô Nước Ý thống nhất, đánh dấu sự kết liễu quyền lực trần thế của Đức Giáo Hoàng. Đức Piô IX tự coi mình là tù nhân tại Điện Vatican. «Vấn đề Roma» kéo dài một nửa thế kỷ và chỉ được giải quyết dứt khoát vào năm 1929 bằng hiệp ước Latran giữa Toà Thánh và Mussolini. Não trạng cấm cung của các Đức Giáo Hoàng kéo dài từ Đức Piô IX tới Đức Piô XII. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII sẽ mở toang cánh cửa Vatican, khai mào một kỷ nguyên mới và một não trạng mới: từ nay các Giáo Hoàng sẵn sàng đi đến với muôn dân chứ không chỉ đón tiếp mọi người tại Điện Vatican.

5. Trong mối quan hệ căng thẳng giữa Giáo Hội và thế giới tân thời, giới Công giáo tại Châu Âu, nhất là tại Pháp, chia thành hai khối: khối bảo thủ và khối cấp tiến cởi mở. Chúng ta không đề cập tới lãnh vực thần học vì quá phức tạp nhưng chỉ giới hạn vào lãnh vực xã hội. Đã có một số trí thức, giáo sĩ và kỹ nghệ gia Công giáo tỏ ra bén nhạy với vấn đề xã hội.

a. Tại Pháp: Bá tước Montalembert, Linh mục Lamennais, linh mục dòng Đa Minh Lacordaire và ông giáo dân Ozanam đề xướng chủ nghĩa Công giáo cởi mở để xây dựng khối Công giáo cởi mở (Catholicisme libéral), đồng nghĩa với Công giáo xã hội (Catholicisme social). Kỹ nghệ gia Léon Harmel, một người tiên phong của phong trào hoạt động xã hội Công giáo tại Pháp đã tổ chức xí nghiệp của mình theo mẫu một cộng đoàn Kitô giáo, trong đó các công nhân điều hành với nhau những sinh hoạt như tổ chức những hiệp hội tôn giáo, những khóa học tập, quỹ tiết kiệm, quỹ tín dụng, quỹ cứu trợ và hợp tác xã. Ông cũng tổ chức những cuộc hành hương của giới công nhân tới Roma để thu hút sự chú ý của Đức Giáo Hoàng về vấn đề xã hội (năm 1890 có đến mười ngàn công nhân tham gia).

b. Tại Đức: Đức cha Ketteler là một nhân vật có cái nhìn thức thời sáng suốt, tranh đấu cho việc thiết lập một trật tự xã hội theo tinh thần Kitô giáo. Ngài đã can đảm quy tụ khối Công giáo Đức để đương đầu với chương trình «đấu tranh cho văn hóa» (Kulturkampf) của Bismarck, Thủ tướng độc đoán của Đế quốc Đức với 2/3 dân số là Tin lành. Bismarck chủ trương dân sự hóa nền giáo dục (loại bỏ ảnh hưởng của Giáo Hội Công giáo và hàng giáo sĩ, nhất là dòng Tên), cắt đứt quan hệ ngoại giao với Toà Thánh Vatican. Nhưng nhờ ảnh hưởng của Đức cha Ketteler, khối Công giáo Đức từng bước trở thành «Đảng trung tâm» là tiền thân của đảng dân chủ Kitô giáo. Về mặt xã hội, Đức cha Ketteler thúc đẩy việc thành lập các hiệp hội thợ thuyền (tiền thân của nghiệp đoàn). Thông điệp «Tân Sự» của Đức Lêô XIII sẽ lấy lại một phần cảm hứng và tư tưởng của Đức cha Ketteler .

c. Cũng tại Đức, Linh mục Adolph Kolping đã tạo được phong trào giới trẻ, mang tên «Gia đình Kolping», tại Việt Nam là «Gia Đình Khôi Bình»; nhằm đào tạo thanh thiếu niên Công giáo, đặc biệt trong giới thợ thuyền và nông dân, để biến họ thành những công dân tốt, có nghề nghiệp, có tinh thần yêu tổ quốc, và thành những Kitô hữu xác tín, có tinh thần dấn thân làm chứng cho Chúa Kitô.

II. Tác giả thông điệp «Tân Sự»:
Đức Giáo Hoàng Lêô XIII (1876– 1903) 

Triều đại Giáo Hoàng Lêô XIII đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Giáo Hội:

Sau những lời lên án gây chấn động nghiêm trọng của Đức Piô IX, Đức Lêô XIII tỏ ra hòa hoãn, cởi mở và có cái nhìn tích cực hơn về thế giới hiện đại (thái độ mà người ta sẽ gặp lại nơi Đức Gioan XXIII sau này).

1. Đối với vấn đề chính trị, ngài tỏ ra thức thời và can đảm khi lên tiếng kêu gọi giới Công giáo Pháp hãy đi theo thể chế cộng hòa.

Ngày 12-12-1890 ngài chỉ thị cho Đức Hồng Y Lavigerie, Tổng Giám Mục Alger tại nước Algerie tổ chức chiêu đãi các sĩ quan hải quân Pháp và kêu gọi các công dân Pháp hãy chấm dứt sự chia rẽ và ủng hộ thể chế Cộng hòa đang cầm quyền.

Ngày 16-02-1892 ngài ban hành thông điệp «Giữa những mối bận tâm» (Au milieu des sollicitudes), với đại ý: chỉ có Giáo Hội Chúa Kitô giữ được mãi mãi hình thức quản trị của mình cho đến tận thế, còn các thể chế trần gian thì thay đổi, vì Giáo Hội xuất phát từ Thiên Chúa (Rm 13:1), nhưng hình thức chính trị và cách trao phó quyền bính ấy có thể thay đổi. Khi một chính phủ mới được thành lập để thi hành quyền bính đó thì lợi ích xã hội đòi buộc mọi người phải chấp nhận chính phủ ấy vì chính lợi ích xã hội đã tạo ra chính phủ đó và bảo tồn nó. Tuy nhiên, tôn trọng công quyền đã được thiết lập không có nghĩa là tôn trọng và phục tùng vô giới hạn mọi luật pháp do công quyền đó ban hành (ý nói cần thẩm định giá trị của từng đạo luật).

Lời kêu gọi của ngài đã gặp sự phản đối mạnh mẽ của khối Công giáo bảo hoàng và bảo thủ tại Pháp và Ý, nhưng ngài đã thành công trong việc tạo sự hòa hoãn giữa khối Công giáo Đức và Bismarck, khiến nhà độc tài này ngưng chương trình tranh đấu cho văn hóa. Ngài cũng lập được quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong đó có nước Nga và Thụy Sĩ.

2. Đối với vấn đề xã hội, Đức Lêô XIII đã lắng nghe, theo dõi và trân trọng tư tưởng và hoạt động của nhiều nhân vật tiên phong trong Giáo Hội về mặt xã hội, những Léon Harmel, Ketteler, Mermillod.

Ngài đặc biệt quan tâm tới giới thợ thuyền và đã viết ra thông điệp lừng danh «Tân Sự» (15-5-1891). Đây là văn kiện chất chứa lòng dũng cảm và tinh thần sáng suốt, và là bước khởi đầu học thuyết xã hội của Giáo Hội.

III. Nội dung «Tân Sự».

Thông điệp gồm 3 phần:

● Phần I: Xem xét tình trạng vô trật tự của xã hội.

Đức Lêô XIII tố cáo gay gắt tình trạng lầm than và bất công mà giới thợ thuyền phải gánh chịu. Ngài gọi đó là cái họa tai ác của xã hội (le mal social). Ngài mô tả tình trạng giới thợ thuyền: «là một cái ách tương tự như ách nô lệ» (phần này đã gây ấn tượng mạnh trên dư luận quần chúng).

● Phần II: Xem xét giải pháp xã hội chủ nghĩa.

Đức Lêô XIII không chấp nhận hai luận điểm chính yếu của chủ nghĩa xã hội: đấu tranh giai cấp và xóa bỏ quyền tư hữu (trước năm 1917, học thuyết đó mới trở thành một thể chế chính trị mà Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II sẽ gọi là chủ nghĩa xã hội hiện thực (Socialisme réel), (xem «Bách Chu Niên» số 12:4).

● Phần III: Trình bày giải pháp mà Đức Lêô XIII cho là đúng: Ngài đề nghị phối hợp hành động giữa Giáo Hội và Nhà Nước.

1. Phía Giáo Hội:

a. Hoạt động cho sự hòa giải giữa các giai cấp bằng cách áp dụng nguyên tắc quyền tư hữu phải dẫn tới sự sử dụng chung của cải, và việc hữu sản hóa giới vô sản.

b. Xây dựng tình huynh đệ bằng giáo huấn và hoạt động từ thiện.

2. Phía Nhà Nước:

Cần có chính sách xã hội rõ ràng.

a. Cổ võ công ích và tạo sự phồn vinh xã hội.

b. Bảo vệ công nhân và tạo cho họ có của cải riêng.

c. Tổ chức hiệp hội và nghiệp đoàn làm cho các giai cấp xích lại gần nhau.

Khi trình bày các điểm trên đây, Đức Lêô XIII phê phán chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh vốn chủ trương rằng công quyền không được can thiệp vào đời sống kinh tế.

IV. Lượng định 

1. Nhận định của ông Paul Laforgue, là con rể đồng thời là môn đệ của Các Mác, cũng là một trong những thủ lãnh của chủ nghĩa xã hội: Thông điệp «Tân Sự» đánh dấu hành vi quan trọng nhất của Giáo Hội Công giáo trong thế kỷ XIX này. Người ta chưa học tập và đào sâu đủ văn kiện đó và nhiều người Công giáo chưa khám phá ra nội dung của nó. Đó là một văn kiện đáng chú ý, có tư tưởng vững chắc, có lối hành văn tuyệt vời và mang dấu ấn của nam tính mà bản dịch tiếng Pháp khó diễn tả hết.

2. Mặc dầu trong nhiều thập niên, đa số người Công giáo lơ là đối với văn kiện này và chỉ những người Công giáo có xu hướng xã hội mới quan tâm tới nó, nhưng văn kiện này đã trở thành một gia sản của cả loài người. Do đó, năm 1931 Đức Giáo Hoàng Piô XI viết thông điệp «Tứ Thập Niên» để nhắc lại và triển khai giáo huấn của «Tân Sự».

3. Trong «Tân Sự», Đức Lêô XIII đã phân biệt chủ nghĩa xã hội, mà ngài phê phán, với phong trào công nhân dẫn tới tổ chức nghiệp đoàn mà ngài cổ vũ.

4. Đức Giáo Hoàng Piô XII trong sứ điệp truyền thanh ngày 11. -6-1951 kỷ niệm 50 năm Tân Sự đã nói: «Chúa Thánh Thần đã linh ứng cho Đức Giáo Hoàng Lêô XIII và dùng bức thông điệp này mà thổi những luồng khí tái tạo thế giới. Bức thông điệp đó ngày càng làm dậy lên cả nhân loại» (trích dẫn trong «Mẹ và Thầy», số 41).

5. Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II thay mặt cho cả Giáo Hội nói lên lòng biết ơn sâu sắc đối với Đức Lêô XIII, vị Giáo Hoàng vĩ đại với thông điệp «Tân Sự», là «một văn kiện bất tử» (xem «Bách Chu Niên» 1:2).

a. Theo ngài, chìa khóa giúp đọc văn kiện này là phẩm giá của người lao động và của chính công việc lao động hiểu theo nghĩa của Đức Lêô XIII là những sinh hoạt của con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu của cuộc sống, đặc biệt nhằm bảo đảm cuộc sinh tồn. Lao động mang hai tính cách: cá nhân và xã hội; cá nhân, vì lao động nằm trong khả năng của mỗi người; xã hội, vì lao động của các thợ thuyền là nguồn gốc làm phát sinh sự giàu có của quốc gia (xem «Bách Chu Niên» 6:1).

b. Đức Lêô XIII đã có công trạng bênh vực quyền tư hữu và đồng thời khẳng định nguyên tắc đã được các giáo phụ nêu lên: của cải trên trái đất là để cho mọi người hưởng dùng.

c. Ngài cũng bênh vực quyền lập hiệp hội và nghiệp đoàn của các chủ xí nghiệp cũng như của công nhân, quyền của công nhân được lao động trong một số giờ hạn định và được nghỉ ngơi; quyền của trẻ em và phụ nữ được đối xử khác hơn với đàn ông trong vấn đề lao động; quyền của mọi công nhân được hưởng thù lao hợp lý để tự nuôi thân và nuôi gia đình; cuối cùng là quyền tự do tôn giáo, tự do biểu hiện đức tin của mình (xem «Bách Chu Niên» 7- 9).

Tiếng nói của Đức Lêô XIII vẫn mãi mãi có giá trị.

 

 

Chương 3

THỜI ĐẠI ĐỨC GIÁO HOÀNG PIÔ XI (1922 – 1939) 
 VÀ THÔNG ĐIỆP «Tứ Thập Niên» (1931)

I. Bối cảnh:

1. Nhìn tổng quát: dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô IX (1846– 1878), Giáo Hội đã phản ứng tự vệ trước những đòn tấn công của xã hội hiện đại đang trên đà công nghệ hóa: thông điệp Quanta Cura và Syllabus 1846 lên án những sai lầm của thời đại xuất phát từ ngoài Giáo Hội.

2. Vào thời đại Đức Lêô XIII (1878– 1903) Giáo Hội cởi mở với thế giới hơn và tỏ ra đặc biệt nhạy bén với vấn đề xã hội (thông điệp «Tân Sự») 

3. Dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô X (1903– 1914) Giáo Hội trở về lại với thái độ tự vệ, nhưng vị thánh Giáo Hoàng này chủ yếu lên án những sai lầm xuất phát từ bên trong Giáo Hội được gói ghém trong thuật ngữ «chủ nghĩa duy tân» (moder-nisme).

Với nhân vật tên tuổi là linh mục Alfred Loisy, chủ nghĩa Duy tân – «điểm hẹn hò của mọi lạc giáo» – hoạt động chủ yếu trong lãnh vực chú giải Kinh Thánh và thần học tín lý. Điểm sai lầm chính yếu của Loisy là giải thích Mạc Khải và các tín điều như một cảm nghiệm tôn giáo trong con người và trong lịch sử loài người mà không có một sự can thiệp khách quan nào của các thực tại siêu nhiên. Chủ nghĩa nội tại (immanentisme) ấy dẫn tới hậu quả là chủ nghĩa bất khả tri (agnosticisme) đối với các thực tại siêu hình và siêu nhiên.

Ngày 8-9-1907 Đức Piô X lên án chủ nghĩa Duy tân bằng thông điệp Pascendi (việc chăn dắt đoàn chiên) ngài xác nhận và củng cố nghị định Lamentabili (điều đáng phàn nàn) của Thánh Bộ Đức tin ngày 13-7-1907 lên án 65 luận điểm.

Năm 1910, Toà Thánh quyết định rằng trước khi nhận một chức vụ trong Giáo Hội, mọi người phải tuyên xưng đức tin và tuyên thệ khước từ chủ nghĩa Duy tân.

4. Triều đại của Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XV (1914– 1922) rơi vào thời kỳ thế chiến I. Ngài bận tâm về cuộc vận động hòa bình giữa các phe tham chiến. Ngài ban hành Bộ Giáo Luật 1917 đã được khởi công dưới thời Đức Piô. Năm 1919, ngài viết thông điệp Maximum Illud (nhiệm vụ lớn lao nhất) hướng dẫn công việc truyền giáo: ngài chỉ thị phải tách biệt công cuộc truyền giáo với các chính sách thuộc địa và chuẩn bị thành lập hàng giáo sĩ bản quốc.

5. Triều đại Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922– 1939) là thời đại hòa bình sau thế chiến I:

a. Về mặt tôn giáo:

Ngài tiếp nối và triển khai các dự tính của các vị tiền nhiệm.

Năm 1926, ngài tấn phong 6 vị Giám Mục Trung Hoa đầu tiên để thực hiện ý định của Đức Bênêdictô XV.

Năm 1933, ngài tấn phong Đức Cha Nguyễn Bá Tòng, vị Giám Mục Việt nam tiên khởi.

Ngài khích lệ và thúc đẩy phong trào Công giáo Tiến Hành. Ngài được mệnh danh là «Vị Giáo Hoàng Công giáo Tiến hành»; ngài hậu thuẫn mạnh mẽ cho cha Cardini, vị sáng lập Thanh Lao Công (1925) tại Bỉ, phong trào này đã nhanh chóng lan rộng khắp nơi.

b. Về mặt chính trị:

Ngài cho phép Đức Hồng Y Gasparri ký hiệp ước Latran 1929 với Mussôlini của chính phủ Ý.

Năm 1937, ngài viết thông điệp «Với nỗi lo âu nóng bỏng» (Mitbrennender Sorge) gởi cho giới Công giáo Đức để lên án chủ nghĩa Quốc xã của Hitler, nhất là chính sách kỳ thị chủng tộc của ông này đối với người Do Thái. Ngài đã tuyên bố một lời nổi tiếng: «Chúng tôi là những người Sêmit xét về tinh thần».

Cùng năm đó ngài ban hành thông điệp «Chúa Cứu Thế» (Divini Redemptoris) không tán đồng chủ nghĩa vô thần với những lời lẽ nghiêm khắc (1937 là thời đại của Stalin tại Liên Xô).

c. Về mặt xã hội:

Sau sự thinh lặng của hai triều đại Giáo Hoàng (Piô X và Bênêdictô XV) về vấn đề xã hội, Đức Piô XI viết thông điệp «Tứ Thập Niên» (15-5-1931) nhắc lại giáo huấn của Đức Lêô XIII. Ngài lặp lại lời kêu gọi của Đức Lêô XIII: hãy đến với giới công nhân, nhất là những công nhân nghèo và nói chung hãy đến với mọi người nghèo.

II. Nội dung thông điệp «Tứ Thập Niên»

● Phần I: Nhắc lại tầm quan trọng của «Tân Sự» và của hoạt động xã hội.

Đức Piô XI khẳng định lại giáo huấn của Đức Lêô XIII và triển khai sâu rộng, rõ ràng hơn.

● Phần II: Đề cập tới 5 vấn đề:

1. Quyền tư hữu: Đức Piô XI phân biệt khía cạnh cá nhân và khía cạnh xã hội của quyền tư hữu. Cá nhân sở hữu của cải, nhưng không chỉ cá nhân hưởng thụ của cải đó mà phải mở rộng sự hưởng thụ cho nhiều người và cho cả xã hội.

2. Tư bản và lao động: chủ và thợ phải cộng tác với nhau và cùng chia sẻ lợi nhuận do xí nghiệp mang lại. Nhà nước phải tạo điều kiện cho công nhân và người vô sản có của cải riêng và phải phân phối của cải hợp lý hơn.

3. Chế độ thù lao – nghĩa là việc trả lương – là điều hợp lý và chính đáng, nhưng phải tạo điều kiện cho công nhân tham gia vào việc điều hành xí nghiệp và quyết định các vấn đề liên quan tới xí nghiệp. Khi ấn định thù lao, phải để ý đến nhu cầu của công nhân, của gia đình họ, tình hình xí nghiệp và công ích.

4. Cải tổ cơ chế: để thực hiện cuộc cải tổ cơ chế xã hội, cần xác định vai trò của nhà nước và của các nghiệp đoàn, nghĩa là các hiệp hội của những người cùng làm một nghề.

5. Phương hướng hoạt động tổng quát: cần loại trừ chủ nghĩa tự do cạnh tranh tuyệt đối và nạn đầu cơ độc quyền thao túng. Con đường trung dung là xây dựng công bằng xã hội và bác ái. Đức Piô XI là vị Giáo Hoàng đầu tiên đưa thuật ngữ «công bằng xã hội» vào giáo huấn xã hội của Giáo Hội (xem Ghi chú chuyên đề).

● Phần III: Xem xét chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.

1. Đức Piô XI phê phán chủ nghĩa tư bản dưới dạng chủ nghĩa tự do cạnh tranh thủ lợi tối đa cho chủ nhân, dạng này dẫn tới sự bóc lột và bần cùng hóa giới vô sản.

2. Ngài cũng phê phán chủ nghĩa xã hội dưới cả hai dạng nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

a. Dạng nghĩa hẹp: là chủ nghĩa cộng sản, còn gọi là chủ nghĩa xã hội của đệ tam Quốc Tế giới công nhân họp tại Matxcơva 1921 (Đệ I Quốc tế 1866 tại Genève; Đệ II Quốc tế 1904 tại Amsterdam; Đệ tứ Quốc tế 1922– 1923 tại Berlin).

 Đức Piô XI không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản vì 5 lý do: chủ nghĩa cộng sản chủ trương:

– Đấu tranh giai cấp.

– Xóa bỏ quyền tư hữu.

– Bách hại Giáo Hội.

– Chủ trương vô thần.

– Sử dụng bạo lực.

b. Dạng nghĩa rộng: là các thứ chủ nghĩa xã hội ôn hòa và không theo ý thức hệ Mácxít .

● Phần IV: Giải pháp đề nghị.

Cải tổ đời sống luân lý và làm sống lại tinh thần Kitô giáo. Phương pháp cụ thể là cổ võ việc tông đồ giáo dân, nhất là dưới hình thức Công giáo Tiến Hành chuyên biệt (Thanh Lao Công; Thanh Sinh Công; Hội các bà mẹ Công giáo; Đạo binh Đức Mẹ; Các dòng Ba; Các Hội đoàn thanh thiếu niên…) 

III. Lượng định

«Tứ Thập Niên» cũng là một văn kiện lớn mang hai đặc điểm: nhấn mạnh công bằng xã hội và đề cao vai trò giáo dân trong công cuộc cải tổ xã hội.

Cho đến Công Đồng Vatican II, văn kiện này chứa đựng những nguyên tắc cơ bản của học thuyết xã hội của Giáo Hội. Dĩ nhiên học thuyết đó sẽ tiếp tục tiến hóa trong tư tưởng cũng như trong giọng điệu: Giáo Hội từng bước đi từ đối đầu đến đối thoại. Đó cũng là xu hướng chung của thế giới trong hạ bán thế kỷ XX.

 

Ghi chú chuyên đề
về Công Bằng Xã Hội và Công Ích

I. Quan niệm cổ điển về công bằng

Theo khoa thần học luân lý cổ truyền, công bằng hoặc công lý mang 3 dạng:

1. Công bằng thưởng phạt (Justice vindicative): trừng phạt các tội phạm (đây là phạm vi của quyền tư pháp), và khen thưởng những gì lập được thành tích.

2. Công bằng giao hoán (Justice commutative): nằm trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân hoặc giữa một nhóm này với một nhóm kia được coi như những cá nhân tập thể hoặc pháp nhân. Công bằng giao hoán không chú ý tới công ích, nhưng chỉ chú ý tới quyền lợi cá nhân, như quyền tư hữu, quyền thừa kế, quyền hợp đồng, quyền vay nợ… Quy luật của công bằng giao hoán là sự trao đổi hai chiều căn cứ trên trị giá của sự vật. Công bằng giao hoán được đo lường bởi sự tương đương mang tính chất toán học và số lượng (có thể quy ra tiền hoặc vàng hoặc bất cứ giá trị nào) và dựa trên nguyên tắc «tôi cho anh để anh cho tôi».

3. Công bằng phân phối (Justice distributive): Đặt con người không phải trong quan hệ bình đẳng với từng cá nhân khác, như trường hợp công bằng giáo dục nhưng trong quan hệ với cộng đồng xã hội như là thành viên của cộng đồng ấy. Công bằng phân phối tôn trọng quyền lợi mà mỗi cá nhân được hưởng do cộng đồng cung cấp (như sự trợ giúp lâm nạn; danh dự và những chức vụ trong cộng đồng xã hội).

Đây không phải là quan hệ trao đổi hai chiều như trong công bằng giao hoán, nhưng là sự phân phối của cộng đồng cho từng cá nhân theo nhu cầu thực tế của họ, chứ không chỉ theo mức đóng góp của họ trong xã hội. Sự bình đẳng giữa những nhân vị trong trường hợp công bằng phân phối không mang tính chất số học, nhưng là theo tỉ lệ tương xứng với nhu cầu của mỗi người.

 II. Công ích

Công bằng phân phối đặt mỗi cá nhân vào trong tương quan với cộng đồng xã hội và công ích. Vậy công ích là gì ?

1. Công ích hay công thiện? Đúng lý ra, phải nói là công thiện (bien commun) để phân biệt với công ích (intérêt général). Từ công ích không nhất thiết bao hàm giá trị luân lý (thí dụ: cổ võ hoặc cho phép buôn bán ma túy, rượu mạnh và mãi dâm là những phương tiện vô luân hoặc ít phù hợp với đạo đức để tăng lợi nhuận cho quốc gia hay tập thể). Còn công thiện thì nhất thiết bao hàm tiêu chuẩn luân lý: lợi ích chung cho cộng đồng quốc gia hoặc quốc tế, phải bao gồm mọi yếu tố tốt lành, thiện hảo về mặt luân lý để làm tăng trưởng đời sống cá nhân và tập thể.

Nếu vì hạn chế của ngôn ngữ mà ta dùng từ công ích đã khá quen thuộc, thì ta phải hiểu nó theo nghĩa công thiện, bởi vì theo Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tác dụng của công thiện là hoàn thiện con người, và do đó công ích, công thiện là một sự thiện hảo thuộc phạm vi luân lý và đạo đức. Tự bản chất công ích phải bao gồm tiêu chuẩn luân lý và đạo đức.

2. Công Đồng Vatican II dựa vào thông điệp «Mẹ Và Thầy» của Đức Gioan XXIII, số 53, đã định nghĩa công ích như sau: «Công ích là toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể (hay những nhóm) hoặc những phần tử cá thể đạt tới sự hoàn hảo (hay lợi ích) riêng của mình một cách đầy đủ và dễ dàng hơn» (MV 26,1).

Toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội là:

a. Bối cảnh chung của quốc gia gồm những yếu tố như:

Địa dư và các tài nguyên thiên nhiên.

Lịch sử, truyền thống, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo…

Thể chế chính trị.

Luật pháp nhằm bảo đảm trật tự và luân lý công cộng.

b. Những phương tiện cụ thể cung cấp những phúc lợi nhằm bảo đảm đời sống và sự phát triển của từng cá nhân:

Bảo đảm đời sống thể lý bằng cách tạo sự an ninh:

+ Đối nội: bảo đảm trật tự an toàn xã hội bên trong quốc gia (đó là nhiệm vụ của Bộ Nội Vụ).

+ Đối ngoại:

bảo đảm sự an toàn quốc gia không bị xâm lăng từ bên ngoài (nhiệm vụ của Bộ Quốc Phòng và Bộ Ngoại Giao).

Bảo đảm sức khỏe (nhiệm vụ của Bộ Y tế).

Bảo đảm quyền được học hành (nhiệm vụ của Bộ Giáo Dục).

Bảo đảm công ăn việc làm (nhiệm vụ của các Bộ xã hội, kinh tế, tài chánh, công nghiệp, nông nghiệp).

Bảo đảm thông tin giải trí (nhiệm vụ của dịch vụ thông tin, thể thao, văn hóa…) 

Bảo đảm quyền tự do lương tâm và tôn giáo (các đạo luật tôn giáo).

Bảo đảm được đối xử công bằng đúng pháp luật (dịch vụ tư pháp).

Công ích hiểu như trên không phải là một cứu cánh tự thân nhưng là một phương tiện phục vụ các nhân vị, nhưng mỗi cá nhân có bổn phận góp phần xây dựng công ích để công ích có khả năng phục vụ lại mỗi người và mọi người. Mỗi cá nhân góp phần vào đó bằng hai cách chính:

● Đóng góp tài chánh dưới dạng đóng thuế, góp quỹ từ thiện.

● Hạn chế bớt sự tự do riêng tư để tuân thủ luật pháp công cộng như giữ luật giao thông, làm nghĩa vụ quân sự hoặc lao động.

Mọi người phải quí trọng và xây dựng công ích, nhưng chính Nhà Nước có vai trò chuyên biệt phục vụ công ích và tổ chức việc xây dựng công ích bằng cách bắt buộc mọi công dân tuân thủ luật pháp công cộng.

● Theo Đức Lêô XIII, tự bản chất quyền bính dân sự được thiết lập để mưu cầu công ích (Thông điệp «Giữa các mối lo âu» ngày 16-2-1892).

● Theo Đức Piô XI: «Sinh hoạt chính trị tìm kiếm lợi ích của toàn thể xã hội. Đó là phạm vi của đức bác ái rộng lớn nhất, đức bác ái chính trị (La charité politique), chỉ thấp hơn phạm vi của tôn giáo thôi» (Huấn từ 18-12-1927). Như thế phục vụ công ích là thi hành đức bác ái chính trị.

● Theo Đức Piô XII:

«Mọi sinh hoạt kinh tế và chính trị của Nhà Nước phải hướng về việc thực hiện công ích cách bền bỉ» (Sứ điệp truyền thanh ngày 24-12-1942).

«Công ích là cứu cánh và là điều luật của Nhà Nước và các cơ quan công quyền» (Thông điệp Summi Pontificatus – Nhiệm vụ Giáo Hoàng).

«Linh hồn của mọi Nhà Nước là ý thức thâm sâu về công ích» (Sứ điệp truyền thanh ngày 15-9-1946).

Vì công ích là một phương tiện phục vụ lợi ích của các nhân vị, nên luật pháp công cộng không được đi ngược với những quyền lợi sâu xa, bất khả di nhượng của nhân vị, được khắc ghi trong chính bản chất con người. Theo Giáo Hội Công giáo, những quyền lợi đó thuộc phạm vi luật tự nhiên và luật Thiên Chúa. Hai loại luật này là tiêu chuẩn để đánh giá tính chất chân lý, chính đáng và ràng buộc của luật công cộng. Người Kitô hữu phải có khả năng biện phân và đánh giá các luật pháp công cộng cùng tuân thủ các luật pháp đó thế nào mà vẫn tôn trọng luật tự nhiên và luật Thiên Chúa (xem Thông điệp «Giữa những mối lo âu» của Đức Lêô XIII) 

III. Công bằng xã hội

Ý niệm này đã được nhóm «Linh mục dân chủ» vào hạ bán thế kỷ XIX tại Pháp sử dụng để đặt tên cho một tờ báo «La Justique sociale» của Linh mục Naudet. Nhưng chính Đức Piô XI là vị Giáo Hoàng đầu tiên đưa thuật ngữ này vào các văn kiện Tòa Thánh trong thông điệp «Tứ Thập Niên».

Đức Lêô XIII trong «Tân Sự» đã nói tới một luật công bằng tự nhiên còn cao hơn và kỳ cựu hơn sự thỏa thuận giữa ý chí của ông chủ và ý chí của người thợ về mức thù lao (nghĩa là công bằng giao hoán).

Đức Piô XI đề cao vai trò các nghiệp đoàn Kitô giáo trong việc bảo vệ quyền lợi của giới công nhân và áp dụng các nguyên tắc Kitô giáo vào phạm vi xã hội. Ngài nêu lên sự công bằng xã hội như một mục tiêu cho sinh hoạt của các nghiệp đoàn nhằm đạt được một sự phân phối hợp lý hơn các thu nhập quốc gia và tạo điều kiện cho mọi giai cấp dự phần vào các của cải do các tiến bộ kinh tế mang lại.

Nhận định: Hai từ «phân phối» và «dự phần» được Đức Piô XI sử dụng làm cho ý niệm «công bằng xã hội» xích lại gần ý niệm «công bằng phân phối» của khoa thần học luân lý cổ truyền, nhưng công bằng xã hội mang ý nghĩa sâu hơn, rộng hơn và năng động hơn công bằng phân phối.

a. Sâu hơn: vì công bằng xã hội dựa trên luật tự nhiên hay nói theo kiểu Đức Lêô XIII: «Dựa trên luật công bằng tự nhiên cao hơn và kỳ cựu hơn luật công bằng giao hoán», Căn bản tự nhiên của công bằng xã hội là ba nguyên tắc:

Con người mang tính xã hội, và chỉ có thể sống nhờ xã hội.

Mọi người đều bình đẳng vì đều mang hình ảnh Thiên Chúa.

Mọi của cải trên trần gian là để mọi người hưởng dùng.

Theo Đức Piô XI trong «Tứ Thập Niên», cần phải phân phối cho mỗi người những gì họ có quyền hưởng và phải căn cứ vào các qui tắc của công ích và của luật công bằng xã hội để phân phối các tài nguyên của thế giới này.

«Công bằng xã hội đòi hỏi rằng mọi người phải được dự phần cách công bằng và thích hợp vào mọi của cải của đất nước» (Piô XII – Diễn từ Lễ Hiện Xuống 1943) 

b. Rộng hơn: Vì công bằng xã hội bao hàm cả công bằng phân phối, công bằng giao hoán, và công bằng thưởng phạt.

c. Năng động hơn: Vì công bằng xã hội có đề cập đến các tiến bộ của nền kinh tế, mang lại những lợi ích mà mọi giai cấp phải được thụ hưởng. Tư tưởng này hàm chứa sự nhìn nhận quyền của giới công nhân được tham dự vào việc điều hành xí nghiệp, và chia sẻ các lợi nhuận của xí nghiệp một cách hợp lý và phải lẽ.

Ý niệm công bằng xã hội cũng rộng hơn ý niệm công bằng tổng quát (Justique général) của khoa luân lý kinh viện xuất phát từ thánh Tôma. Công bằng tổng quát còn được gọi là công bằng pháp lý (Justique légale), vì đức công bằng tổng quát đó được diễn tả thành luật lệ chi phối toàn bộ các hành vi của con người.

Hai thuật ngữ «công bằng tổng quát» và «công bằng pháp lý» đều liên quan tới các bổn phận của cá nhân đối với cộng đồng, còn «công bằng phân phối» thì liên quan tới bổn phận của cộng đồng đối với từng cá nhân.

Công bằng xã hội không chỉ nằm trong luật lệ và tư tưởng của các nhà làm luật, nhưng bén rễ trong luật tự nhiên và trong bản chất con người. Do đó, công bằng xã hội đòi hỏi sự góp phần của mỗi công dân và mọi tổ chức để tạo lập một trật tự xã hội phù hợp với các nguyên tắc của công ích, đó là: cộng đồng xã hội phù hợp với các nguyên tắc của công ích, đó là: cộng đồng xã hội do công quyền đại diện phải tôn trọng các quyền lợi tự nhiên của mỗi thành viên để mỗi thành viên có điều kiện chu toàn các nghĩa vụ và chức năng của mình đối với cộng đồng xã hội (theo Đức Cha Guerry – Học thuyết xã hội của Giáo Hội, trang 142-143).

Ý niệm công bằng xã hội do Đức Giáo Hoàng Piô XI đưa vào giáo huấn chính thức của Giáo Hội năm 1931 là rất then chốt và sẽ được các Đức Giáo Hoàng kế nhiệm triển khai theo nhãn quan rộng lớn, vượt khỏi ranh giới của quốc gia để bao trùm các mối tương quan giữa các dân tộc và cả đời sống loài người.

 

 

Chương 4

THỜI ĐẠI ĐỨC GIÁO HOÀNG PIÔ XII (1939– 1958)

 

Đức Giáo Hoàng Piô XII là một vị Giáo Hoàng lớn có tầm cỡ như Đức Piô XI.

1. Triều đại Ngài là thời đại huy hoàng nhất của các phong trào Công giáo Tiến Hành.

2. Ngài tiếp nối tinh thần cảnh giác cao đối với chủ nghĩa cộng sản đã bén rễ ở Châu Âu và đang lan rộng sang Châu Á (tại Trung Quốc 1949 với chiến thắng của Mao Trạch Đông); ngài phải đương đầu với phong trào Giáo Hội tự trị tại Trung Quốc.

3. Ngài tiếp nối phong trào Thánh Mẫu trong Giáo Hội do Đức Giáo Hoàng Piô IX cổ võ (với tín điều Vô Nhiễm 1854). Đức Piô XII định tín điều «Đức Mẹ hồn xác lên trời» (1950).

4. Ngài đẩy mạnh việc nghiên cứu Kinh Thánh; cải tổ Phụng Vụ, mở đường cho cuộc cải tổ Phụng vụ của Công Đồng Vatican II sau này.

Ngài quốc tế hóa giáo triều và hồng y đoàn.

Ngài cổ võ công việc truyền giáo với thông điệp «Hồng ân Đức Tin» (Fidei Donum, 1957) và thành lập hàng giáo phẩm của nhiều Giáo Hội tại các miền truyền giáo.

5. Vào đầu triều đại của ngài, có xảy ra Thế chiến II do Hittler gây ra. Đứng trước những tội ác diệt chủng của Hittler, Đức Piô XII và Toà Thánh Vatican đã vận động để thoa dịu nỗi đau khổ và cứu vớt nạn nhân, nhất là người Do Thái. Nhưng vì những tính toán ngoại giao, ngài đã thinh lặng, không công khai phê phán chủ nghĩa Đức Quốc Xã như Đức Piô XI đã làm.

6. Vào cuối triều đại, ngài tỏ ra cứng rắn đối với những nhà thần học cởi mở như De Lubac, Congar, Chenu. Thông điệp Humani Generis (Loài người, 1950) tiêu biểu cho thái độ cứng rắn đó. Năm 1953, ngài chỉ thị cho các linh mục thợ ở Pháp phải trở về nhà Xứ.

7. Tuy không ban hành một thông điệp xã hội nào, nhưng ngài rất quan tâm tới vấn đề xã hội theo truyền thống của «Tân Sự» và «Tứ Thập Niên». Chúng ta đặc biệt chú ý tới những tư tưởng sau đây được ngài diễn tả trong những diễn văn và sứ điệp truyền thanh.

a. Giá trị của lao động:

«Công việc lao động tiếp nối chương trình do Đấng Tạo Hóa tạo dựng» (Sứ điệp Giáng Sinh 1957 – Tư tưởng này sẽ được Vatican II lấy lại trong MV 34,2; 67,2).

b. Sự dấn thân chính trị:

Theo ngài đó là một trong những hình thức cao nhất của đức bác ái. Ở điểm này ngài tiếp nối tư tưởng của Đức Lêô XIII: «Không muốn tham gia vào việc công cộng cũng đáng trách như không quan tâm và không đóng góp gì cho công ích» (thông điệp Immortale Dei – Ý định bất diệt của Thiên Chúa – 1885). Với tư tưởng của Đức Piô XI gọi đức bác ái chính trị là hình thức rộng lớn nhất của đức bác ái.

Ở đây chính trị được hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động xã hội nhằm xây dựng công ích.

c. Loại trừ chiến tranh:

– Lý thuyết dùng chiến tranh như phương thế thích hợp để giải quyết các vụ tranh chấp của loài người ngày nay đã lỗi thời rồi (Sứ điệp Giáng sinh 1944).

– «Với hòa bình sẽ không mất gì, với chiến tranh có thể mất tất cả» (Sứ điệp truyền thanh 10-11-1958).

– Mọi quốc gia có quyền tự vệ nhưng không phải là có quyền dùng bạo lực chiến tranh để chống lại bất cứ bất công nào. Nếu hậu quả của chiến tranh lớn hơn hậu quả của bất công thì người ta phải chịu đựng sự bất công đó (3-10-1958).

d. Sự hợp tác quốc tế là cần thiết để xây dựng xã hội công bằng hơn và bảo đảm hòa bình, tư tưởng này sẽ được các vị kế nhiệm ngài triển khai rộng rãi.

e. Ngài đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc bổ trợ hoặc phụ đới trong việc tổ chức đời sống xã hội.

Ghi chú chuyên đề về NGUYÊN TẮC BỔ TRỢ
(Principe de subsidiarité)

Nguyên tắc bổ trợ hay phụ đới đã được đề cập trong «Tân Sự» của Đức Lêô XIII (xem 28– 29), được triển khai trong «Tứ Thập Niên» của Đức Piô XI (79) và được Đức Piô XII ứng dụng đặc biệt cho tổ chức Nhà Nước trong các Quốc gia.

1. Theo Đức Piô XI: «Mục tiêu tự nhiên của mọi hoạt động can thiệp (của Nhà Nước) trong phạm vi xã hội là nhằm hỗ trợ các thành viên của tập thể xã hội chứ không phá hủy hoặc cuốn hút họ».

2. Còn đối với Đức Piô XII: «Mọi sinh hoạt xã hội tự bản chất mang tính cách bổ trợ (subsidiaire). Các sinh hoạt đó phải hỗ trợ các phần tử của tập thể xã hội và không bao giờ được phép phá hủy hoặc cuốn hút họ».

Nguyên tắc bổ trợ là một yếu tố then chốt trong học thuyết xã hội của Giáo Hội. Nó điều hòa mối quan hệ giữa Nhà Nước và các cá nhân hoặc các nhóm trung gian như gia đình, nghiệp đoàn…

Nhà Nước có sứ mạng đặc thù là quản lý việc xây dựng công ích và có trọn vẹn chủ quyền trong phạm vi này.

Nhưng việc quản lý các lợi ích tư nhân thì thuộc thẩm quyền của từng cá nhân liên hệ.

Theo nguyên tắc bổ trợ, Nhà Nước phải tôn trọng các sáng kiến, các quyết định của tư nhân trong phạm vi quyền hạn và lợi ích của họ. Nhà Nước không có quyền can thiệp trừ khi các hoạt động tư nhân xâm phạm tới công ích hoặc lợi ích của kẻ khác.

Như vậy: Nhìn từ phía Nhà Nước: Nguyên tắc bổ trợ đòi hỏi công quyền phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của tư nhân và tạo điều kiện cho tư nhân phát huy sự tự do, óc sáng tạo và sự trưởng thành của mình.

Nhìn từ phía tư nhân: Nguyên tắc bổ trợ cho phép và đòi hỏi mỗi người và mỗi nhóm phát huy tinh thần trách nhiệm của mình, sớt bớt trách nhiệm của Nhà Nước (thí dụ: quyền mở trường tư, nhà trẻ tư, bệnh viện tư …). Bổ trợ hoặc phụ đới nghĩa là tư nhân phụ vào với Nhà Nước và bổ túc cho Nhà Nước.

Việc không tôn trọng hoặc áp dụng sai nguyên tắc bổ trợ đưa tới những hậu quả tai hại, cụ thể là sự hình thành hai dạng méo mó của Nhà Nước:

a. Nhà Nước bao cấp hay Nhà Nước quan phòng (Etat– providence): mọi quyền quản lý đều tập trung vào tay Nhà Nước, mọi tài sản và tư liệu sản xuất cũng được tập trung vào tay Nhà Nước độc quyền và độc tôn tuyệt đối, còn tư nhân không có quyền tự do và sáng kiến nào, vì mọi sự do Nhà Nước điều khiển và định đoạt, nghĩa là Nhà Nước can thiệp tối đa. Chủ nghĩa tư bản tập thể với hình thức kinh tế quốc doanh độc tôn này đã tự chứng tỏ là vô hiệu, bất hợp lý, không phù hợp quy luật khách quan vì chứa đựng chủ nghĩa duy ý chí. Các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ Liên Xô và cả Việt Nam nữa, đang cố gắng xóa bỏ mô hình Nhà Nước bao cấp để chuyển sang kinh tế thị trường, kinh tế nhiều thành phần, nghĩa là áp dụng nguyên tắc bổ trợ nhiều hơn.

b. Hình thức thứ hai là Nhà Nước sen đầm (Etat Gendarme). Theo chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh với dạng quá khích là «chủ nghĩa tư bản hoang dã» thì Nhà Nước không cần can thiệp vào phạm vi kinh tế tư nhân hoặc chỉ can thiệp tối thiểu để ngăn chặn nội chiến hoặc xáo trộn trật tự trị an, ngoài ra mỗi cá nhân hoặc mỗi nhóm tự do làm giàu, thậm chí bằng cách bóc lột, bần cùng hóa người khác.

Giáo Hội phê phán cả hai mô hình Nhà Nước trên đây. Giáo Hội khuyến khích mô hình Nhà Nước bổ trợ (Etat subsidiaire), vừa là đầy tớ của dân chứ không phải ông chủ độc tài, đầy tớ quản lý việc xây dựng công ích. Vừa là trọng tài để điều hòa sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần nhân dân và bênh vực quyền lợi của những phần tử yếu kém trong xã hội.

Hướng đi lịch sử thế giới hiện nay đang minh chứng rằng mô hình Nhà Nước bổ trợ do Giáo Hội đề xướng đang được thực hiện khắp nơi theo những mức độ khác nhau.

Nguyên tắc bổ trợ hoặc phụ đới cũng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống Giáo Hội: quan hệ giữa trung ương và địa phương giữa bề trên và bề dưới đặc biệt trong các dòng tu.

 

Chương 5

THỜI ĐẠI ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII (1958– 1963) 

 

I. Về triều đại Đức Gioan XXIII

Năm năm quả là ngắn ngủi nhưng đủ để chứng minh rằng vị Giáo Hoàng cao niên mà dư luận ban đầu coi như một nhân vật chuyển tiếp, quả thật là một Vị Giáo Hoàng vĩ đại.

1. Sự nghiệp lịch sử của Ngài là đã triệu tập Công Đồng Vatican II và quyết định duyệt lại Bộ Giáo Luật.

2. Đặc điểm của Ngài là tinh thần khiêm tốn, hiền hòa, cởi mở và sẵn sàng đối thoại.

3. Mối bận tâm chính của Ngài là:

a. Cập nhật hóa (canh tân thích ứng) Giáo Hội theo kịp đà chuyển biến của thế giới.

b. Tái thiết sự hợp nhất giữa các Kitô hữu (Đại kết) 

Trong bài diễn văn khai mạc Công Đồng ngày 11-10-1962, có hai tư tưởng tiêu biểu cho tinh thần của Ngài:

Người ta cần phân biệt nội dung giáo lý cổ truyền chứa đựng trong kho tàng đức tin với hình thức diễn tả giáo lý ấy. Hình thức diễn tả này cần mang tính chất mục vụ, dễ hiểu và thích hợp với thời đại hôm nay. Chính ngài vạch hướng cho Công Đồng phải mang tính chất mục vụ.

Ngày nay Hiền Thê của Chúa Kitô chọn phương dược của lòng nhân ái hơn là sự nghiêm khắc của những lời lên án. Câu nói này của Đức Gioan XXIII đánh dấu một bước ngoặt mới trong ngôn ngữ và giọng điệu của Giáo Hội khi đề cập tới các vấn đề xã hội và thế giới loài người.

4. Về các vấn đề xã hội, Ngài để lại hai văn kiện lớn: thông điệp «Mẹ Và Thầy» (1961) và thông điệp «Hòa Bình Trên Trái Đất» (1963).

Tiếng nói và tinh thần của Ngài gây được ảnh hưởng và âm vang tích cực trong bối cảnh thế giới đang chuyển từ thái độ đối đầu của cuộc chiến tranh lạnh sau thế chiến II sang thái độ đối thoại và hòa hoãn.

Stalin chết năm 1953, Krutchev phát động chiến dịch bài trừ Stalin, mở đường hướng ngoại giao mới xây dựng trên nguyên tắc chung sống hòa bình. Năm 1963, ông ký với Tổng Thống Kennedy một hiệp ước về vấn đề thử bom nguyên tử, mở đầu cho những cuộc thương lượng giữa hai siêu cường quốc về vấn đề giải trừ quân bị.

II. Thông điệp «Mẹ Và Thầy»

Tình hình xã hội sau thế chiến II: Kinh tế Âu Mỹ phát triển nhanh. Cuộc Cách mạng công nghệ thế kỷ XIX đã tạo ra một xã hội công nghệ vững bền. Nhưng thế giới thứ hai gồm các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; và thế giới thứ ba gồm các nước trung lập, kém mở mang ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh.

Thông điệp «Mẹ Và Thầy» ngày 15-5-1961 kỷ niệm 70 năm thông điệp «Tân Sự». Khẳng định giáo huấn của các Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, Piô XI, Piô XII, với đặc điểm mở rộng quan điểm để nhìn vấn đề xã hội theo chiều kích thế giới, như Đức Piô XII đã đề xướng trong lúc Đức Lêô XIII và Đức Piô XI trước đó chỉ chú tâm vào giới công nhân.

Phần mở đầu: Giáo Hội có sứ mạng chăm lo phần rỗi đời đời và hạnh phúc siêu nhiên, nhưng đồng thời cũng chú tâm tới cuộc sống hằng ngày của mọi người.

● Phần I: Tóm lược Giáo huấn xã hội của các Vị tiền nhiệm.

Đức Gioan XXIII nhìn nhận giá trị của các giáo huấn đó đặc biệt ba luận điểm căn bản:

1. Quyền tư hữu phải được khẳng định, nhưng cần được quân bình bởi nguyên tắc của cải trên trái đất là đề cho mọi người hưởng dùng.

2. Lao động là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người.

3. Gia đình cần có tài sản riêng như «vũ trụ sinh sống» của mình để bảo đảm đời sống vật chất, đời sống tinh thần và tôn giáo. Mỗi gia đình cũng có quyền di trú.

● Phần II: Xác định và quảng diễn một số điểm trong giáo huấn của các Vị Tiền nhiệm.

1. Khẳng định lại nguyên tắc bổ trợ.

2. Đức Gioan XXIII ghi nhận hiện tượng «xã hội hóa» là một trong những khía cạnh đặc biệt của thời đại chúng ta, và ngài đã định nghĩa chính xác công ích là gì (hai tư tưởng này sẽ được Công Đồng Vatican II lấy lại trong MV 26,1 – xem «Mẹ Và Thầy» 52,53) 

3. Xác định lại những tiêu chuẩn để ấn định lương bổng thù lao:

● Năng lực sản xuất của từng cá nhân.

● Tình trạng kinh tế của xí nghiệp.

● Đòi hỏi của công ích cấp quốc gia và quốc tế.

● Thù lao phải được ấn định theo luật công bằng và nhân tạo, tối thiểu phải đủ cho người thợ và gia đình của mình sinh sống xứng với nhân phẩm.

4. Cần đổi mới cơ cấu xã hội nhằm tạo sự phồn vinh và phân phối sự phồn vinh ấy đúng lẽ công bằng xã hội.

5. Quyền tư hữu và công hữu:

Của cải riêng vừa mang khía cạnh cá nhân vừa mang khía cạnh xã hội (xem «Tứ Thập Niên»). Tư hữu là hợp với luật tự nhiên.

Nhưng Nhà Nước cũng có quyền có công sản để phục vụ công ích, Nhà Nước có thể quốc hữu hóa một số tài nguyên, nhất là những tài nguyên lớn như hầm mỏ và những công trình kinh tế lớn như các đập thủy điện, hệ thống đường sắt, v. v… Vì nếu để những tài sản lớn đó rơi vào tay tư nhân thì sẽ có thể nguy hại tới công ích. Việc quốc hữu hóa chỉ chính đáng khi nó thực sự phục vụ công ích và khi tinh thần của nguyên tắc bổ trợ vẫn được tôn trọng.

● Phần III: Những khía cạnh mới của vấn đề xã hội.

1. Phải đưa công bằng xã hội vào những lãnh vực ít phát triển, đặc biệt nông nghiệp (Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII lưu tâm tới nông nghiệp có lẽ vì bản thân ngài xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo).

2. Phải đưa công bằng xã hội vào mối tương quan giữa các nước giàu và các nước nghèo, các nước đã phát triển hoặc đang phát triển. Ngài cho rằng đây là vấn đề quan trọng nhất của thời đại chúng ta (xem 62). Đức Phaolô VI sẽ triển khai đề tài này trong thông điệp «Phát Triển Các Dân Tộc» (1967).

3. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII cũng quan tâm tới hiện tượng gia tăng dân số và vấn đề phát triển xã hội. Ngài lưu ý:

Hãy bình tĩnh tin tưởng.

Hãy dùng óc thông minh và khoa học kỹ thuật để làm tăng số lương thực thực phẩm cần thiết.

Hãy tôn trọng luật truyền sinh trong hôn nhân. Điểm này sẽ là đề tài của thông điệp Humanae Vitae (Sự sống con người) của Đức Phaolô VI,1968.

● Phần IV: Tìm một trật tự quân bình trong chân lý, công bình và bác ái.

1. Đức Gioan XXIII khẳng định sự đúng đắn và hợp thời của học thuyết xã hội của Giáo hội. Thời gian đang chứng minh sự sai lầm hoặc phiến diện của nhiều ý thức hệ xã hội.

2. Ngài chỉ thị cho mọi thành phần Dân Chúa, nhất là giáo dân, phải học tập và phổ biến học thuyết xã hội của Giáo hội bằng phương pháp giáo dục thực nghiệm theo cách thức của phong trào Thanh Sinh Công (Xem– Xét– Làm) (104).

III. Thông điệp «Hòa Bình Trên Trái Đất» (11-04-1963).

Vụ hỏa tiễn nguyên tử của Liên Xô được chuyển chở tới Cuba 1962 tạo ra một cơn khủng hoảng nghiêm trọng, làm thế giới run sợ trước hiểm họa chiến tranh hạt nhân. Đức Gioan XXIII gởi một sứ điệp tới các nguyên thủ quốc gia kêu gọi hòa bình. Sau đó ngài ban hành thông điệp «Hòa Bình Trên Trái Đất». Đó là di chúc thiêng liêng ngài trối lại cho thế giới trước khi qua đời ngày 03-06-1963.

Đây là thông điệp đầu tiên không chỉ ngỏ lời với mọi thành phần Dân Chúa mà còn với mọi người thiện chí ở trên khắp hoàn cầu. Thông điệp này đã gây được âm vang rất lớn, ngay cả tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

Nội dung thông điệp

● Phần nhập đề: Hòa bình chỉ có thể xây dựng trên trật tự do Thiên Chúa thiết lập.

● Phần I: Trật tự giữa các cá nhân.

Muốn xây dựng hòa bình cách trật tự và phong phú mọi người phải chấp nhận chân lý cơ bản này: mỗi cá nhân là một nhân vị có lý trí và ý chí tự do, do đó có những quyền lợi và nghĩa vụ:

1. Các quyền lợi:

● Quyền được sống và được hưởng một đời sống xứng hợp với nhân phẩm.

● Quyền được hưởng những giá trị luân lý và văn hóa.

● Quyền được tôn thờ Thiên Chúa theo đòi hỏi của lương tâm.

● Quyền được tự do chọn một nếp sống thích hợp: lập gia đình hay độc thân

● Quyền được lao động: có công ăn việc làm với các quyền lợi kinh tế như được trả thù lao xứng đáng và có phụ cấp gia đình.

● Quyền tư hữu, tư doanh.

● Quyền tự do hội họp và lập hội.

● Quyền di cư và cư trú tại một nước khác.

● Quyền công dân: tham gia đời sống công cộng và được pháp luật đảm bảo an ninh.

2. Các nghĩa vụ:

● Tương ứng với quyền lợi, mọi người phải tôn trọng các quyền lợi và nghĩa vụ của nhau. Đức Gioan XXIII đặc biệt nhấn mạnh tinh thần hợp tác và tinh thần trách nhiệm.

● Hòa bình phải xây dựng trên trật tự luân lý với bốn yếu tố căn bản là: Chân lý – Công bình – Bác ái – Tự do.

● Trật tự ấy bắt nguồn từ Thiên Chúa.

3. Đức Gioan XXIII nêu lên ba dấu chỉ thời đại:

Cuộc thăng tiến giới lao động về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị (xem số 24) 

Nữ giới tham gia đời sống công cộng, mau hơn trong các vùng văn hóa Kitô giáo và chậm hơn trong các vùng văn hóa khác như Hồi giáo, Nho giáo, v. v… (25) 

Các nước bị trị giành lại độc lập tự do, chấm dứt chế độ thực dân. Mọi công dân và mọi quốc gia ý thức rõ hơn về sự bình đẳng giữa mọi người và mọi dân tộc, do đó chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc bị cả loài người lên án (số 26. 27).

● Phần II: Những tương quan giữa cá nhân với công quyền trong một cộng đồng chính trị.

1. Công quyền là cần thiết, quyền bính bắt nguồn từ Thiên Chúa, nhưng những luật lệ nào trái với trật tự luân lý, tức là trái với ý muốn của Thiên Chúa, thì không thể ràng buộc lương tâm (xem Cv 5,29). Những luật lệ đó không thể hiện quyền bính đích thực mà chỉ thể hiện cường quyền và bạo lực (số 31) 

2. Lý do tồn tại của công quyền là để xây dựng công ích. Ngài nhắc lại câu định nghĩa công ích đã nêu trong «Mẹ Và Thầy» (53 và xem «Hòa Bình Trên Trái Đất» 34) và nhấn mạnh tính chất tổng quát của công ích: nó phải phục vụ mọi nhu cầu của con người gồm có xác và hồn, nghĩa là có cả nhu cầu tôn giáo nữa.

3. Vai trò của công quyền đối với quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân là: bênh vực và hòa giải (vai trò trọng tài), cổ võ, khích lệ, hỗ trợ (vai trò đầy tớ).

Ba dấu chỉ của thời đại:

1. Trong cộng đồng chính trị quốc tế có xu hướng ấn định các quyền căn bản của con người trong một bản hiến chương, (Đức Giáo Hoàng ám chỉ tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc) để được cụ thể hóa trong các hiến pháp quốc gia.

2. Các hiến pháp quốc gia xác định cách trao phó chức vụ, quyền hạn và nhiệm kỳ của những người thi hành công quyền (đây là xu hướng dân chủ hóa và xây dựng Nhà Nước pháp quyền. ) 

3. Mối quan hệ giữa công dân và công quyền được xác định bằng phạm trù quyền lợi và nghĩa vụ.

Khuynh hướng chung của thời đại là nhìn nhận phẩm giá của con người

● Phần III: Tương quan giữa các cộng đồng chính trị.

1. Tương tự như giữa các cá nhân, tương quan giữa các cộng đồng chính trị cũng được diễn tả bằng phạm trù quyền lợi và nghĩa vụ.

2. Những người thi hành công quyền phải nhắm xây dựng và quản lý công ích.

3. Quyền bính đó phải xây dựng trên nền tảng là luật luân lý được Tạo Hóa khắc ghi trong trật tự tự nhiên và trong tâm khảm con người (xem số 47 – Trích tư tưởng của Đức Piô XII) 

4. Tương quan giữa các cộng đồng chính trị phải được điều hòa trong chân lý, công bình và tự do.

5. Sự tồn tại và đời sống của các dân tộc thiểu số phải được tôn trọng: Họ có quyền được phát triển. Nhưng chính họ cũng có nghĩa vụ làm chiếc cầu truyền sức sống linh hoạt của họ, qua nhiều hình thức, đến với các truyền thống và văn hóa khác nhau trong sự chung sống hòa bình (51- 52) Đó là đòi hỏi của công bằng xã hội.

6. Tưong quan liên đới: Mỗi cộng đồng chính trị tìm công ích quốc gia nhưng cũng phải tính đến công ích của cả nhân loại và tránh gây thiệt hại cho những cộng đồng khác.

7. Sự quân bình giữa dân cư, đất đai, tài sản: giữa các dân tộc cần có sự cộng tác để tạo điều kiện cho vốn, của cải, và nhân lực dễ di chuyển từ nước này sang nước khác.

8. Quyền tị nạn chính trị là một trường hợp cụ thể của quyền tự do di trú. Họ là những con người đáng được hưởng mọi quyền lợi, mặc dầu đã bị tước mất quyền công dân ở Tổ quốc họ (57– 58).

9. Giải trừ quân bị: Sự công bình, khôn ngoan, lòng nhân đạo đòi phải ngưng cuộc chạy đua vũ trang và phải giải trừ quân bị: giải trừ toàn diện, nghĩa là giải trừ ngay trong tâm hồn, bằng cách loại bỏ quan niệm duy trì hòa bình bằng cân bằng lực lượng quân sự và cần phổ biến quan niệm hòa bình chỉ có thể xây dựng trên lòng tin tưởng.

10. Quan hệ giữa các cộng đồng chính trị: phải tôn trọng quyền tự do độc lập của nhau. Các nước phát triển phải giúp đỡ các nước kém mở mang, theo nguyên tắc: giúp họ làm sao để họ có thể tự giúp lấy chính họ (help for self-help).

Một dấu chỉ của thời đại:

Các dân tộc đã ý thức rằng không thể giải quyết các tranh chấp bằng vũ lực nhưng bằng đàm phán, đi từ đối đầu đến đối ngoại.

● Phần IV: Tương quan giữa các cá nhân và các cộng đồng quốc gia với cộng đồng thế giới.

1. Các cộng đồng chính trị càng ngày càng liên thuộc vào nhau.

2. Cách tổ chức hiện nay của công quyền không đủ để bảo đảm công ích của toàn thể nhân loại, do đó cần thiết lập một công quyền thế giới có quyền hạn trên toàn thế giới, nhưng phải dựa trên cơ sở sự tán đồng, chứ không do cường lực áp đặt.

3. Tương quan giữa công quyền thế giới với công quyền quốc gia và các cá nhân phải tôn trọng nguyên tắc bổ trợ.

Một dấu chỉ thời đại:

Ngày 26-6-1945, Liên Hiệp Quốc được thành lập, đó là khởi điểm cho nhiều cơ quan liên chính phủ trong các lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục …

Ngày 10-12-1948, Tuyên Ngôn Nhân Quyền được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc phê chuẩn tại San Francisco. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII mong muốn Liên Hiệp Quốc thích ứng các cơ chế với các phương tiện hoạt động của mình.

● Phần V: Những Huấn thị mục vụ .

Ngài kêu gọi mọi người:

1. Tích cực tham gia vào việc điều khiển các công việc trong nước và góp phần xây dựng công ích của Đại gia đình nhân loại (80) 

2. Trau dồi năng lực khoa học kỹ thuật và chuyên môn (81).

3. Coi hoạt động trần thế là một cách hưởng ứng trung thành giới răn của Thiên Chúa, cộng tác vào công cuộc sáng tạo của Ngài và góp phần thực hiện kế hoạch quan phòng của Ngài trong lịch sử (82).

4. Hòa hợp đức tin và hoạt động trần thế.

5. Giáo dục thanh niên cách toàn diện về khoa học và đức tin.

6. Quan niệm đúng về tương quan giữa người Công giáo và không Công giáo trong phạm vi kinh tế, chính trị, xã hội.

a. Lẽ công bằng cũng đòi buộc phải phân biệt sự sai lạc với người lầm lỗi; con người lầm lỗi vẫn là một con người mang nhân phẩm đáng được tôn trọng (87) 

b. Lẽ công bằng cũng đòi buộc phải phân biệt những lý thuyết triết học sai lầm về bản chất, nguồn gốc, cứu cánh của vũ trụ và con người, với những trào lưu lịch sử đã được xây dựng với mục đích kinh tế, xã hội, văn hóa hay chính trị, dẫu rằng những trào lưu này đã bắt nguồn và vẫn còn múc cảm hứng từ các học thuyết trên.

Học thuyết một khi đã được xác định và công thức hóa sẽ không thay đổi nữa, nhưng những trào lưu lịch sử kia, vì lấy những điều kiện cụ thể và hay thay đổi của đời sống làm đối tượng, thì sẽ không thể chịu ảnh hưởng sâu đậm của cuộc tiến hóa đó được.

Vả lại, tùy theo mức độ phù hợp của những trào lưu đó với những nguyên tắc lành mạnh của lý trí và với những nguyện vọng chính đáng của con người, hỏi rằng ai có thể cấm không cho nhận trong các trào lưu đó những yếu tố tích cực và đáng được tán thưởng (88) 

7. Vận dụng óc biện phân đối với từng hoàn cảnh, từng vấn đề và hoạt động từng bước theo luật tiến hóa chứ không dùng bạo lực làm cách mạng (89 – 90) 

8. Xây dựng hòa bình:

a. Trước tiên trong từng cá nhân bằng cách tuân giữ trật tự mà Thiên Chúa đã thiết lập (91) 

b. Một nền hòa bình vững chắc trên thế giới chỉ có thể xây dựng trên trật tự đã phác họa trong thông điệp này: một trật tự trên căn bản chân lý; Xây trên luật công bằng; nhận sức sống và sự sung mãn từ đức bác ái; Được biểu thị hữu hiệu trong tự do.

IV. Lượng định

1. Thông điệp Hòa bình dùng ý niệm trật tự do Thiên Chúa thiết lập để định nghĩa hòa bình. Đức Gioan XXIII đã lấy cảm hứng từ định nghĩa cổ điển của triết học kinh viện «Pax est tranquillitas in ordine» (Hòa bình là sự yên tĩnh trong trật tự). Nhưng cách phân tích của ngài không trừu tượng, trái lại đề cập tới những vấn đề cụ thể: quyền lợi và nghĩa vụ trong tương quan:

– Cá nhân với cá nhân.

– Cá nhân với công quyền.

– Các cộng đồng chính trị với nhau.

– Cá nhân, cộng đồng quốc gia với cộng đồng thế giới.

Theo nhận định của một tờ báo tả khuynh, công trạng của Đức Gioan XXIII là «đã đưa hòa bình của Thiên Chúa xuống ngang tầm những thực tại của thời đại chúng ta» (xem Théo, tr 498).

2. Lời lẽ của Đức Giáo Hoàng thanh thản, khách quan, tích cực, trân trọng đối với mọi người.

3. Ngài tạo nên thuật ngữ «dấu chỉ thời đại» dựa trên Tin mừng Mt 16,1-4:

a. Theo Chúa Giêsu, dấu chỉ thời đại là những sự kiện đặc biệt xảy ra trong thời đại Đấng Thiên Sai đến thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa, đó là các phép lạ Người đã làm, giáo lý Người dạy và cuối cùng là chính bản thân Người, với sự kiện trọng tâm cái chết và sự phục sinh của Người.

b. Theo Đức Giáo Hoàng XXIII, dấu chỉ thời đại là những sự kiện lớn, hàm xúc ý nghĩa, đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong lịch sử, đáng cho mọi người suy gẫm để nhận ra ý Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì trước những sự kiện đó, nhằm xây dựng cho đời sống loài người tốt đẹp hơn.

Ngài nêu lên tám dấu chỉ thời đại như những yếu tố tích cực có khả năng khơi dậy «Vui Mừng Và Hy Vọng» cho mọi người.

4. Thông điệp «Hòa Bình Trên Trái Đất» cũng như thông điệp «Mẹ Và Thầy» sẽ ảnh hưởng trực tiếp trên Công đồng Vatican II, đặc biệt trên Hiến chế «Vui Mừng Và Hy Vọng».

 

Chương 6

THỜI ĐẠI CÔNG ĐỒNG VATICAN II (1962– 1965)

I. Tổng quát

1. Bài diễn văn khai mạc Công Đồng và hai thông điệp của Đức Gioan XXIII đã gây ảnh hưởng sâu sắc trên Công Đồng, với kết qủa là sự hình thành 16 văn kiện Công Đồng (4 Hiến chế; 9 sắc lệnh; 3 Tuyên ngôn). Trong 16 văn kiện đó thì:

● 12 văn kiện trực tiếp liên quan đến đời sống nội bộ Giáo Hội, với văn kiện nền tảng là Hiến chế «Ánh Sáng Muôn Dân».

● 4 văn kiện liên quan tới cuộc đối thoại với bên ngoài Giáo Hội, đó là:

Đối thoại với các Giáo Hội Kitô giáo ngoài Công giáo: Sắc lệnh về Đại kết là một văn kiện vừa cẩn trọng (Giáo Hội Công giáo nắm trong tay sự viên mãn của kho tàng mạc khải) vừa táo bạo (Giáo Hội Công giáo nhìn nhận những giá trị đặc thù của các Giáo Hội khác, và ước mong một sự hợp nhất mà không phải là đơn thuần trở về lại trong lòng Giáo Hội Công giáo. Về điểm này Công đồng Vatican II khác với các Đức Piô XI, XII. ) 

Đối thoại với các tôn giáo ngoài Kitô giáo: Sắc lệnh Nostra Aetate (Thời đại chúng ta) là một văn kiện rất đẹp nhìn nhận chính thức các giá trị trong các tôn giáo khác. Mỗi tôn giáo có một cái gì đó để nói với chúng ta về Thiên Chúa. Người Công giáo cần lưu tâm đến các tôn giáo khác, đặc biệt Do thái giáo.

Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo (phẩm giá con người) cũng đánh dấu một khởi điểm mới: Trong thế kỷ XIX, Giáo hội kịch liệt chống lại quan điểm đòi tự do tôn giáo theo nghĩa tự do chọn lựa tôn giáo theo xác tín lương tâm (xem Syllabus của Đức Piô IX); Công Đồng Vatican II khẳng định phẩm giá con người bao hàm quyền tự do tôn giáo. Công quyền có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ quyền tự do đó. Văn kiện này gián tiếp lên án mọi hình thức bách hại tôn giáo và mọi chế độ độc tài.

Hiến chế Mục Vụ «Vui Mừng Và Hy Vọng» là văn kiện độc đáo và tiêu biểu nhất cho tinh thần Công đồng Vatican II.

2. Song song với ảnh hưởng của Đức Gioan XXIII, ảnh hưởng của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI trên Công đồng cũng rất lớn. Ngài tiếp nối đường hướng và tinh thần của vị Tiền Nhiệm là: cởi mở và đối thoại với mọi người bên ngoài Giáo hội Công giáo (Thông điệp đầu tiên của ngài: Ecclesiam suam 1964 đề cập nhiều tới đối thoại).

Khi Đức Gioan XXIII qua đời, chưa có văn kiện nào của Công Đồng được thông qua, chính Đức Phaolô VI phê chuẩn và ban hành tất cả 16 văn kiện.

II. Nội dung của Hiến chế «Vui Mừng Và Hy Vọng»

Hiến chế này gồm 3 phần không đều, và đã ứng dụng phương pháp Xem, Xét, Làm của Thanh Lao Công mà Đức Gioan XXIII chuẩn nhận và khuyến khích (xem «Mẹ và Thầy», số 104).

Phần Nhập đề: (số 4– 10) Mô tả thân phận con người trong thế giới ngày nay (XEM):

Công đồng phân tích các biến chuyển của thời đại với những hiện tượng như:

● Khoa học kỹ thuật ngự trị.

● Hiện tượng Đô thị hóa và công nghệ hóa.

● Sự gia tăng ào ạt các phương tiện truyền thông và giao dịch.

● Các khoa học về con người phát triển.

Nhìn tổng quát:

Có hiện tượng «xã hội hóa» nhưng không luôn luôn kèm theo sự phát triển đầy đủ nhân vị và các mối tương quan phù hợp với nhân vị, nghĩa là thiếu sự «nhân vị hóa» tương xứng (xem số 6,5). Do đó, thế giới ngày nay thiếu thăng bằng, có nhiều căng thẳng, thậm chí mâu thuẫn và đối nghịch (xem 8). Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó nằm trong chính cõi lòng con người không dung hòa được:

● Khía cạnh suy tư và khía cạnh thực tiễn của trí tuệ.

● Khuynh hướng tìm hiệu năng và lương tâm luân lý.

● Các đòi hỏi của đời sống tập thể và tư tưởng cá nhân.

● Trong cõi lòng con người bị xâu xé bởi những căn thẳng đó, nhưng lại mang khát vọng đạt tới một trật tự nhân bản hơn và có tình người hơn.

Phần I: Giáo hội và thiên chức con người (số 11-45) (XÉT)

Chương 1: Giáo Hội suy nghĩ về phẩm giá con người và vấn đề chủ nghĩa vô thần.

Chương 2: Giáo Hội suy nghĩ về cộng đồng nhân loại. Con người cần vươn lên khỏi nền luân lý cá nhân chủ nghĩa để hướng tới một nền luân lý nhấn mạnh tương quan liên vị và cộng đồng, nghĩa là coi trọng công ích, tôn trọng sự bình đẳng, công bằng xã hội, ý thức và sự liên đới.

Chương 3: Giáo Hội suy nghĩ về các sinh hoạt của loài người giữa thế giới. Cần nhận thức về giá trị và các tiêu chuẩn của sinh hoạt con người.

a. Giá trị:

+Sinh hoạt con người tiếp nối sự nghiệp của Đấng Tạo Hóa.

+Phục vụ tha nhân.

+Góp phần thực hiện chương trình của Thiên Chúa trong lịch sử.

+Biến đổi sự vật.

+Hoàn thiện bản thân 

Số 34-35: cung cấp chất liệu để xây dựng nền Linh đạo Lao động.

b. Tiêu chuẩn:

Thước đo của sinh hoạt con người là:

+Sinh hoạt đó phải phù hợp với các lợi ích đích thực của loài người theo chương trình và dự tính của Thiên Chúa.

+Phải làm cho con người triển nở trọn vẹn về mọi mặt dưới khía cạnh cá nhân cũng như trong quan hệ với xã hội. Do đó giá trị của con người nằm trong sự hoàn thiện nhân tính ở bình diện hữu thể (Être) hơn là trong của cải mình có (Avoir) (Tư tưởng của Đức Phaolô VI).

+Trật tự được thiết lập trên cơ sở công bằng và tình huynh đệ thì giá trị hơn các tiến bộ khoa học kỹ thuật (số 35) 

Chương 4: Sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới ngày nay:

+Giúp đỡ mỗi người trở nên người hơn nhờ khám phá con người hoàn hảo là Đức Giêsu Kitô.

+Bảo vệ nhân phẩm và nhân quyền.

+Hoạt động cho sự hợp nhất và đoàn kết giữa loài người.

Công đồng khuyến khích mọi Kitô hữu hãy tích cực sống như những công dân của xã hội trần thế với lời cảnh cáo rất nặng: «Xao lãng bổn phận trần thế là xao lãng bổn phận đối với tha nhân và hơn nữa đối với Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời bị đe dọa» (MV 43,1 – Lời này phản ánh tư tưởng của Đức Piô XI về đức bác ái chính trị, và của Đức Piô XII về sự dấn thân chính trị là hình thức cao nhất của đức bác ái).

Phần II: Đề cập tới một số vấn đề khẩn trương cần có giải pháp (LÀM) (số 46– 90):

1. Vấn đề gia đình và hôn nhân (chương 1).

2. Vấn đề văn hóa (chương 2).

3. Đời sống kinh tế (chương 3).

Đề tài lao động (số 67) được triển khai để bổ túc cho phần đề cập tới sinh hoạt của con người (số 34– 35). Công đồng phân biệt và nhấn mạnh mấy nguyên tắc:

Công nhân có quyền tham gia vào việc điều hành xí nghiệp.

Của cải là để cho mọi người hưởng dùng.

Tôn trọng quyền tư hữu và làm cho mọi người đạt tới tư hữu.

Xóa bỏ sự chênh lệch quá lớn trong đời sống kinh tế – xã hội.

4. Đời sống cộng đồng chính trị: xây trên nguyên tắc bổ trợ và sự thực hiện công ích (chương 4).

5. Bảo vệ hòa bình và xây dựng cộng đồng quốc tế (chương 5).

Trong phần II, mỗi vấn đề được phân tích kỹ lưỡng và kèm theo những nguyên tắc hướng dẫn hành động.

III. Lượng định

● Văn kiện lớn này nhắc lại những nguyên tắc có giá trị thường hằng, nhưng theo một quan điểm mang tính chất Mục vụ. Đây là một tổng hợp giáo huấn xã hội của Giáo Hội từ Đức Lêô XIII đến Đức Phaolô VI.

● Văn kiện này là một bản tuyên xưng lòng tin của Công đồng vào ơn gọi con người và chiều hướng sinh hoạt của con người. Tuy có nhắc tới bóng tối trong đời sống xã hội như một dấu chỉ của tội lỗi, nhưng văn kiện này vẫn toát ra một tinh thần lạc quan và hy vọng.

● Sử gia Chélini gọi văn kiện này là «một thỏa ước tình yêu giữa Giáo Hội và loài người» (xem Théo, trang 502) 

 

Chương 7

THỜI ĐẠI ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAOLÔ VI  (1963– 1978)

I. Tổng quát

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI quyết định tiếp nối sự nghiệp của Đức Gioan XXIII, đó là Công Đồng Vatican II với đặc điểm nổi bật là tinh thần đối thoại. Chính ngài đưa Công Đồng Vatican II tới chỗ hoàn tất và hướng dẫn việc thi hành.

A. Đối thoại nội bộ Giáo Hội:

1. Năm 1965 ngài thiết lập cơ chế Thượng Hội đồng Giám Mục thế giới theo nguyện vọng của Công Đồng (xem GM 36) để đóng vai trò cố vấn cho Đức Giáo Hoàng.

2. Ngài cải tổ Phụng vụ bằng việc ban hành sách lễ Roma và sách các Giờ kinh phụng vụ.

3. Thành lập các Hội Đồng Giám Mục ở cấp quốc gia và Châu lục; Hội đồng linh mục và Hội đồng mục vụ ở cấp giáo phận; Hội đồng giáo xứ hay Hội đồng mục vụ ở cấp giáo xứ.

4. Thành lập Hội đồng giáo dân ở Roma.

5. Ban hành thông điệp «Sự sống con người» (năm 68); Tông huấn «Chứng tá Phúc Âm» (năm 70) về đời sống tu trì; và Tông huấn «Loan báo Tin Mừng» (năm 75) về công cuộc truyền giáo.

B. Đối với các Giáo Hội ngoài Công giáo:

1. Ngài gặp Đức Thượng Phụ Chính Thống Athenagoras 1964 tại Giêrusalem trong cuộc du hành đầu tiên ngoài nước Ý.

2. Ngày 4-12-1965, ngài tham dự lần đầu tiên một cuộc cử hành phụng vụ Lời Chúa chung với anh em Kitô hữu ngoài Công giáo.

3. Ngày 7-12-1965, hai Giáo Hội Công giáo và Chính Thống Hy Lạp hủy bỏ vạ tuyệt thông lẫn nhau từ năm 1054. Nghi lễ hủy bỏ xảy ra đồng thời tại Roma và Istanbul.

4. Ngày 3-1-1966, ngài thành lập văn phòng Hợp Nhất.

C. Đối với thế giới và các vấn đề xã hội:

1. Ngày 4-10-1965 ngài đến thăm trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York và phát biểu một lời bất hủ: «Không bao giờ chống phá nhau nữa, không bao giờ chiến tranh nữa». Đức Phaolô VI công bố trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc những tư tưởng mà Đức Piô XII đã phát đi trong các sứ điệp truyền thanh năm 1944 và 1956.

2. Năm 1964, Ngài đi thăm Ấn Độ; Năm 1968, đi thăm Châu Mỹ La-tinh; Năm 1969, đi thăm Châu Phi; và năm 1970, đi thăm Châu Á.

3. Năm 1965, Ngài cho phép các linh mục thợ ở Pháp đi làm lại (CĐ Vatican II xem LM 8,1 đã công nhận và trân trọng các linh mục thợ).

4. Nhất là năm 1967, Ngài ban hành thông điệp «Phát Triển Các Dân Tộc» và thành lập Ủy ban Giáo Hoàng «Công lý và hòa bình».

II. Thông điệp «Phát Triển Các Dân Tộc»

Tương tự như «Vui Mừng Và Hy Vọng», thông điệp «Phát Triển Các Dân Tộc» cũng ứng dụng phương pháp Xem, Xét, Làm.

● Lời mở đầu:

Vấn đề xã hội ngày nay đã trở thành một vấn đề mang chiều kích thế giới (Thông điệp «Mẹ Và Thầy» của Đức Gioan XXIII đã bắt đầu nhìn theo quan điểm rộng lớn này, khác với «Tân Sự» và «Tứ Thập Niên»).

● Phát triển toàn diện con người:

A. Sự kiện (Xem) 

1. Khát vọng của con người là:

– được LÀM (faire) 

– được BIẾT (savoir) 

– được CÓ (avoir) NHIỀU HƠN, để sống cho ra người hơn (être plus).

Khát vọng của các dân tộc là được độc lập tự do về chính trị và được phát triển về kinh tế, xã hội. Những khát vọng chính đáng đó chưa được đáp ứng đầy đủ, thậm chí có nhiều cá nhân, nhiều dân tộc đang là nạn nhân của nghèo đói, ngu dốt, áp bức, bất công.

2. Sự chênh lệch quá lớn giữa thiểu số giàu và đại đa số nghèo khổ trong một quốc gia là không chấp nhận được.

3. Sự chênh lệch giữa các nước giàu và các nước nghèo càng ngày càng lớn.

4. Ngoài ra có sự đụng độ giữa nền văn minh cổ truyền và văn minh kỹ thuật mới.

B. Giáo hội và vấn đề phát triển: (Xét) 

Đứng trước tình trạng đó, Giáo Hội đề xuất một quan niệm về phát triển toàn diện, nghĩa là không chỉ phát triển Kinh tế (cái có) mà còn phải phát triển tất cả mọi người với khả năng biết và làm để sống cho ra người hơn; Và phát triển tất cả mọi người không loại trừ ai hay một nhóm thiểu số nào.

C. Công cuộc phải thực hiện (Làm) 

1. Đức Phaolô VI nhắc lại một nguyên tắc của Kinh Thánh đã được các giáo phụ và Công Đồng Vatican II khẳng định mạnh mẽ: Thiên Chúa đã tạo dựng trái đất và mọi vật trên đó để cho mọi người và mọi dân tộc hưởng dùng. Vì thế của cải trên trần gian phải tràn đầy cách phải lẽ cho mọi người theo luật công bằng bác ái (MV 69). Định luật này phải được ưu tiên trên mọi quyền khác kể cả quyền tư hữu và tự do buôn bán (PT 22).

Vatican II đã chỉ rõ mọi người có bổn phận nâng đỡ người nghèo, và không chỉ giúp đỡ bằng của cải dư thừa (MV 69). Một số nhà thần học luân lý giải thích: dùng một phần của dư thừa mà giúp, còn các giáo phụ thì khẳng định phải dùng hết của dư thừa mà giúp.

Vatican II trích một lời của giáo phụ: «Không cho một người sắp chết đói ăn là giết chết người đó» (MV 69). Đức Phaolô VI lại trích một lời khác của Thánh Ambrôsiô: «Anh cho nghèo thì đó không phải là anh lấy của mình mà cho, nhưng anh chỉ trả lại cho họ của cải của họ. Bởi vì của cải là để cho mọi người hưởng dùng thì anh đã giành lấy cho một mình anh. Trái đất này là của mọi người chứ không phải của riêng người giàu» (PT 23).

MV 69: người túng quẫn cực độ có quyền lấy của kẻ khác mà dùng cho qua cơn túng quẫn.

2. Phải dùng lao động và công cuộc công nghệ hóa làm động cơ tạo sự ra sự phát triển, nhưng phải lao động cách thông minh và tự do (PT 28), và biến xí nghiệp thành một cộng đoàn người (nghĩa là mang tính người và tình người).

3. Để giải quyết tình trạng bất công, không được dùng bạo lực, trừ trường hợp để lật đổ một chế độ bạo chúa (PT 31), nhưng phải dám cải tổ bằng những biện pháp táo bạo, mạnh dạn.

4. Sáng kiến cá nhân không đủ, cần có những công trình Nhà Nước, nhưng phải tôn trọng nguyên tắc bổ trợ và thực sự phục vụ con người, bởi vì con người là nguồn gốc và cứu cánh của xã hội.

5. Phải chống nạn mù chữ và phát triển văn hóa.

6. Cần có các tổ chức nghiệp đoàn. Riêng đối với người Công giáo, Đức Phaolô VI dựa vào sự phân biệt của Đức Gioan XXIII về chủ thuyết ý thức hệ và trào lưu lịch sử, để phân biệt chủ thuyết vô thần với các nghiệp đoàn của những người vô thần. Nếu người Công giáo giữ được đức tin, sự tự do và phẩm giá của mình thì có thể gia nhập các nghiệp đoàn khác nhau mà vẫn không chấp nhận ý thức hệ duy vật vô thần của họ.

7. Sự phát triển toàn diện phải hướng dẫn con người tới cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, vì con người vượt quá con người (Pascal) 

D. Phát triển liên đới toàn thể nhân loại: (Làm) 

1. Đức Phaolô VI kêu gọi sự hợp tác quốc tế và đối thoại giữa các dân tộc.

2. Ngài đề nghị thành lập một ngân quỹ quốc tế, đóng góp bởi một phần kinh phí để giúp đỡ các nước kém mở mang (PT 51) 

3. Cần phát triển những quan hệ thương mại công bằng và có những quy ước bảo đảm giá cả ổn định, nhất là cho các nguyên liệu từ các nước nghèo.

4. Cần cảnh giác để loại trừ hai chướng ngại là Chủ nghĩa Quốc Gia và Chủ Nghĩa kỳ thị chủng tộc (PT 62– 63) 

5. Mục đích phải nhắm tới là tạo điều kiện cho mỗi dân tộc tự nắm lấy vận mệnh của mình (65) 

6. Ngài kêu gọi vun trồng tình yêu thương đại đồng, được thể hiện:

● trong thái độ tiếp đón ở cấp gia đình và các tổ chức quốc gia, đặc biệt đối với các sinh viên du học và các công nhân xa quê hương.

● trong tinh thần nhân đạo và tinh thần phục vụ của các nhà kinh doanh, và các chuyên viên đến làm việc ở các nước kém mở mang.

● Kết luận:

1. Hòa bình không phải chỉ là không có chiến tranh, và cũng không phải chỉ là thành quả của một sự cân bằng lực lượng luôn bấp bênh. Nhưng hòa bình được xây dựng ngày này qua ngày khác bằng cách thiết lập một trật tự công bằng hơn giữa loài người như Thiên Chúa muốn (76) (trích «Hòa Bình Trên Trái Đất») 

2. Con đường Hòa bình phải đi qua sự phát triển dựa trên một nền kinh tế nhằm phục vụ con người và phân phối cơm bánh hằng ngày cho mọi người như một nguồn tình thương huynh đệ và dấu hiệu Chúa quan phòng (83, 87) 

Ngày nay Phát triển là danh hiệu mới của Hòa bình; Sự phát triển nhằm xây dựng một trật tự mới công bằng hơn giữa các dân tộc (PT 87). Nhưng hòa bình không thể xây dựng trong đơn độc, mà xây dựng trong sự cộng tác và bổ trợ giữa các dân tộc với một quyền bính quốc tế mỗi ngày một hữu hiệu hơn (77, 78) (trích «Hòa Bình Trên Trái Đất») 

Đức Phaolô VI kêu gọi mọi người Công giáo, các Kitô hữu không Công giáo, các tín đồ của các tôn giáo ngoài Kitô giáo, mọi người thiện chí, các chính khách, ký giả, nhà giáo, nhà hiền triết hãy bắt tay vào việc xây dựng hòa bình.

III. Lượng định

1. «Phát Triển Các Dân Tộc» là một văn kiện lớn cùng mang một mạch tư tưởng như «Mẹ Và Thầy», «Hòa Bình Trên Trái Đất», «Vui Mừng Và Hy Vọng» và cùng có một tầm nhìn lớn lao bao trùm cả thế giới.

Nếu «Hòa Bình Trên Trái Đất» đã được gọi là Hiến chương về các quyền con người, thì «Phát Triển Các Dân Tộc» đáng được mệnh danh là Hiến chương về quyền của các dân tộc.

2. «Phát Triển Các Dân Tộc» được các Giáo Hội trẻ trong thế giới thứ III đón nhận hết sức nhiệt liệt.

3. Năm 1987, Đức Gioan-Phaolô II viết thông điệp «Mối Bận Tâm Về Vấn Đề Xã Hội» để kỷ niệm 20 năm thông điệp «Phát Triển Các Dân Tộc».

Tông thư «Bát Thập Niên» (4-5-71)

Do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI gởi cho Hồng Y Roy, chủ tịch hội đồng giáo dân và Ủy ban Công Lý và Hòa Bình.

Bức thư mở đầu bằng việc nhắc lại Công bằng xã hội đã trở thành một vấn đề của toàn thế giới, Giáo Hội có bổn phận quan tâm và đề cập tới nó. Bức thư gồm ba phần theo phương pháp Xem– Xét– Làm.

1. XEM:

Mô tả tình hình xã hội với những vấn đề mới.

1. Hiện tượng đô thị hóa: đây là một biểu hiện của nền văn minh Khoa Học Kỹ thuật, nhưng có nguy cơ đặt con người trong tình trạng cô đơn giữa đám đông.

2. Vấn đề giới trẻ khó hiểu, khó đối thoại với các thế hệ khác.

3. Vấn đề nữ giới cần được pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, nhất là nhân phẩm của họ phải được tôn trọng.

4. Giới lao động ngày càng nắm vai trò quan trọng trong xã hội, nhưng có những vấn đề mới:

● Số phận của những công nhân ngoại kiều.

● Nạn thất nghiệp.

● Số phận của những người nghèo mới: người già cả, bệnh tật, người không theo kịp đà phát triển kinh tế.

● Hiện tượng kỳ thị chủng tộc.

● Vấn đề sinh thái: loài người có thể trở thành nạn nhân của sự khai thác thiên nhiên vô độ.

2. XÉT:

Những khát vọng căn bản và những trào lưu tư tưởng. Hiện tại có hai khát vọng lớn:

Bình đẳng giữa mọi người.

Tham gia vào việc tổ chức xã hội.

Đứng trước những ý thức hệ mang tính chất hàm hồ, dị nghĩa như chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa Mácxít, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh … người Kitô hữu phải biết biện phân. Ngài nhắc lại sự phân biệt của Đức Gioan XXIII trong thông điệp Hòa bình giữa học thuyết triết lý và trào lưu lịch sử nhằm những mục tiêu cụ thể là biến đổi đời sống xã hội.

Người Kitô hữu không thể chấp nhận học thuyết sai lầm nhưng có thể cộng tác với những trào lưu lịch sử ấy. Công Đồng Vatican II đã khẳng định: «Người tin hay không tin đều phải góp sức xây dựng thế giới trong đó họ đang sống» (MV 21, 6).

3. LÀM:

Đứng trước các vấn đề mới, người Kitô hữu.

Cần dấn thân vào đời sống chính trị với sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của nó.

Và sẵn sàng lãnh trách nhiệm.

 

Chương 8

THỜI ĐẠI ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN-PHAOLÔ II (1978 - 2005)

 

 

I. Tổng quát

Đức Gioan-Phaolô II đã được chuẩn bị để thực hành đối thoại và quan tâm tới các vấn đề xã hội.

1. Ngài xuất thân từ Nước Balan, thuộc chủng tộc Slavơ, điểm gặp gỡ giữa các truyền thống văn hóa và các nền thần học Đông– Tây.

– Lúc còn thanh niên, ngài đã làm nghề diễn viên sân khấu; thời chủng sinh ngài đã là một công nhân lao động trong thế chiến thứ II.

– _ Thời còn là linh mục và giám mục, ngài có nhiều kinh nghiệm về chế độ xã hội chủ nghĩa.

2. Xác tín căn bản của ngài:

– Con người là con đường đầu tiên và cơ bản của Giáo Hội (Thông điệp «Đấng Cứu Chuộc Con Người», số 14), nghĩa là tất cả mọi con đường của Giáo Hội đều dẫn tới con người, hay là con người là con đường thứ nhất Giáo Hội phải đi để chu toàn sứ mạng của mình.

– Đấu tranh cho công bằng xã hội và phẩm giá con người là bộ phận tất yếu của công cuộc Phúc Âm Hóa (xem «Bát Thập Niên» 5,6). Đó là chủ đề ngài lặp lại và triển khai mãi với những nỗ lực để đưa giáo huấn của Vatican II vào đời sống Giáo Hội.

– Điểm nổi bật nhất trong triều đại ngài là các chuyến du hành tới các lục địa, các cuộc thăm viếng mục vụ dành cho các Giáo Hội địa phương, đồng thời đối thoại với các dân tộc và thế giới.

Ngày 2-6-1980 ngài ngỏ lời với tổ chức Unesco của Liên Hiệp Quốc: «Chúng ta phải xác tín về vị trí ưu việt của luân lý trên kinh tế, của nhân vị trên sự vật, của tinh thần trên vật chất».

Tiêu biểu cho tinh thần đối thoại của ngài với các tôn giáo theo phương hướng Vatican II, đáng kể nhất là:

Cuộc thăm viếng Hội đường Do Thái tại Rôma 1986.

Cuộc gặp gỡ của các tôn giáo thế giới tại Assisi 1987 để cầu nguyện cho hòa bình do sáng kiến của ngài.

Với tính năng động, tính chiến đấu và tinh thần đối thoại, ngài thật xứng với danh hiệu «Người lực sĩ của Thiên Chúa» do Đức Hồng Y Marty đặt cho ngài.

3. Giáo huấn và sinh hoạt của ngài rất đa dạng:

Năm 1983, Ngài ban hành Bộ Giáo Luật mới, hoàn tất công trình do Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII khởi xướng.

Ngài đã viết nhiều Thông điệp và Tông huấn. Quan trọng nhất, ngoài những thông điệp xã hội, thì đáng kể tới các thông điệp sau đây:

* «Đấng Cứu Chuộc Con Người» (1979).

* «Thiên Chúa giàu lòng thương xót» (1980).

* «Đấng ban Sự Sống» (1986) 

* «Mẹ Chúa Cứu Thế» (1987) 

* «Sứ vụ Chúa Cứu Thế» (1990) 

 Và các Tông huấn:

* Về đời sống gia đình (1984) 

* Về phẩm giá người phụ nữ (1986) 

* Về người tín hữu giáo dân (1989) 

 II. Thông điệp «Lao Động Con Người»

(14-9-1981) 

Sau khi nhắc lại thông điệp «Tân Sự» được 90 năm, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II khẳng định «Lao Động của con người là then chốt và có thể là then chốt quan trọng nhất của tất cả vấn đề xã hội». Và ngài triển khai chủ đề ấy một cách có hệ thống thành bốn phần.

1. Khía cạnh nhân học của lao động: lao động và con người.

Lao động phục vụ cho con người chứ không phải con người phục vụ cho lao động.

Lao động tạo sự liên đới và tình người giữa các con người.

Lao động gắn liền với phẩm giá con người và với môi trường xã hội của nó là gia đình và quốc gia.

2. Khía cạnh xã hội của lao động:

Cuộc tranh chấp giữa lao động và tư bản hiện nay có nguy cơ trở thành cuộc đấu tranh giai cấp.

Trong cuộc tranh chấp đó cần phải giành vị trí ưu tiên cho lao động theo nguyên tắc: «Tư bản phục vụ cho lao động chứ không phải lao động phục vụ cho tư bản» (23) 

Không được tuyệt đối hóa quan điểm kinh tế biến thành chủ nghĩa kinh tế, bởi vì nếu làm ngược lại người ta sẽ rơi vào chủ nghĩa duy vật.

Quan hệ giữa lao động và sở hữu: quyền tư hữu phải phụ thuộc vào công ích và quyền sử dụng chung các của cải trên trái đất.

+Không ai được chiếm hữu tài sản để chống lại lao động hoặc gây thiệt hại cho lao động.

+Không được chiếm hữu để chiếm hữu.

+Dù là sở hữu riêng hay chung (tư sản hay cộng sản), người ta chỉ có thể dùng danh nghĩa duy nhất hợp pháp để chiếm hữu là chiếm hữu các tài sản đó với mục đích phục vụ cho lao động của con người. Nguyên tắc này biện minh cho việc xã hội hóa hay quốc hữu hóa một số tài sản hoặc phương tiện sản xuất nhất định.

3. Khía cạnh luân lý và pháp lý của lao động:

Quyền lợi của người lao động phải được đặt vào trong toàn bộ các quyền lợi của con người.

Công bằng xã hội thúc bách ta phải chú ý tới quan hệ của người lao động không những với chủ nghĩa trực tiếp mà còn với các chủ thuê gián tiếp và các yếu tố ảnh hưởng trên hợp đồng lao động.

Vấn đề công ăn việc làm đòi hỏi phải có một sự quy hoạch .

Lương bổng và thù lao phải xứng với công việc đã thực hiện và phù hợp với nguyên tắc căn bản «của cải là để cho mọi người hưởng dùng».

Riêng đối với phụ nữ và người mẹ, việc tổ chức lao động phải phù hợp với tình trạng và phẩm giá của họ, nhất là đối với người mẹ có nhiệm vụ sinh đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái.

Nghiệp đoàn là chính đáng và cần thiết.

Giới nông dân cần được quan tâm và thăng tiến.

Công bằng xã hội và phẩm giá con người đòi hỏi xã hội phải quan tâm tới người tàn tật và chăm lo cho họ có việc làm xứng hợp và phải đối xử công bằng với người lao động ngoại kiều.

4. Linh đạo lao động:

Nhờ lao động, con người tham gia vào chương trình tạo dựng của Thiên Chúa, với Đức Kitô là khuôn mẫu.

Lao động chỉ mang trọn vẹn ý nghĩa trong ánh sáng của Mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh (xem thêm chương 10 của giáo trình này) 

● Lượng định

Thông điệp «Lao động con người», có thể coi như một bản tóm lược khoa luân lý xã hội của Kitô giáo, trong đó nhân vị con người chiếm vị trí trung tâm của mọi vấn đề kinh tế. Đức Gioan-Phaolô II triển khai rõ nét hơn một số luận điểm trong giáo huấn của Đức Piô XII, Gioan XXIII, Phaolô VI và của Công Đồng Vatican II.

 

III. Thông điệp «

mối bận tâm về vấn đề xã hội» (30-12-1987) 

Đây là thông điệp kỷ niệm 20 năm thông điệp «Phát Triển Các Dân Tộc» của Đức Phaolô VI.

1. Đức Giáo Hoàng khẳng định giá trị vượt thời gian của thông điệp «Phát Triển Các Dân Tộc» 

2. Ngài phác họa bức tranh toàn cảnh thế giới hôm nay và kết luận rằng ước vọng của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ngày nay chưa thực hiện được bao nhiêu. Nguyên nhân của tình trạng kém phát triển các dân tộc là:

Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa bắc và nam; sự đối nghịch giữa đông và tây dẫn tới việc chạy đua vũ trang, buôn bán vũ khí.

Sự xung khắc chính trị cản trở sự hợp tác và liên đới.

Trước đây người ta nói tới ba thế giới, nay có thêm thế giới thứ tư gồm những nước chậm phát triển nhất và những khu vực rất nghèo tại những nước có lợi tức cao hoặc trung bình.

Sự gia tăng dân số tại phía nam bán cầu, và giảm tỉ lệ sinh đẻ tại phía bắc. Chính sách dân số chưa hợp lý và nhất là nhiều lúc không hợp luật luân lý.

Quan điểm kinh tế vẫn mạnh hơn quan điểm luân lý.

3. Sự phát triển đích thực:

Cần phải phân biệt «phát triển đích thực» với «tiến bộ vô giới hạn». Phát triển đích thực không phải chỉ là gia tăng «cái mình có» (avoir plus); nhưng phải đạt tới sự hoàn thiện và sung mãn của nhân phẩm hơn (Être plus) (Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II triển khai tư tưởng này của Đức Phaolô VI đã được Vatican II trích dẫn trong MV 35).

Thông điệp «Mối Bận Tâm Về Vấn Đề Xã Hội» nhấn mạnh quan điểm luân lý của sự phát triển như Đức Giáo Hoàng liên kết sự bảo vệ mọi quyền của con người, kể cả quyền tự do tôn giáo, với công cuộc phát triển đích thực con người và các dân tộc. Những trở ngại luân lý cho cuộc phát triển là óc duy lợi, lòng ham hố quyền lực, sự nương tựa vào những «cơ cấu tội lỗi», những cơ cấu xấu xa.

Đức Giáo Hoàng kết luận: để đẩy mạnh cuộc phát triển đích thực, mọi người cần phải sống liên đới, bác ái, nhất là phải hoán cải con tim.

IV. Thông điệp «Bách Chu Niên» 

(Centesimus Annus, 1-5-1991) 

Kỷ niệm 100 năm «Tân Sự» và gởi cho mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Hội cũng như mọi người thiện chí trên thế giới. Thông điệp gồm một đoạn nhập đề và sáu chương.

Phần Nhập đề: (số 1– 3) 

Nêu lên ý nghĩa và chiều hướng của việc kỷ niệm 100 năm thông điệp «Tân Sự» của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII.

1. «Tân Sự» có đặc điểm là đã được kỷ niệm từ năm thứ 40 đến 90 bởi những văn kiện long trọng của các Đức Giáo Hoàng (Piô XI; Piô XII; Gioan XXIII; Phaolô VI và Gioan-Phaolô II) (số 1) 

2. «Bách Chu Niên» kỷ niệm 100 năm «Tân Sự», đồng thời cũng kỷ niệm các văn kiện và thông điệp khác của các vị tiền nhiệm Đức Gioan-Phaolô II. Tất cả các văn kiện đó cấu tạo nên «Học thuyết xã hội» hoặc «Giáo huấn xã hội» hoặc «Huấn quyền xã hội» của Giáo Hội (số 2) 

3. Đức Giáo Hoàng đề nghị ba cách nhìn:

a. Hướng về quá khứ: chú mục vào «Tân Sự» để khám phá lại những nét phong phú của «văn kiện bất tử» ấy.

b. Hướng về hiện tại: Tập trung vào những thực tại mới đang bao bọc cuộc sống chúng ta hôm nay.

c. Hướng về tương lai: chăm chú vào thiên niên kỷ thứ III với những ẩn số và hứa hẹn của nó, đòi hỏi chúng ta phải vận dụng trí tưởng tượng, óc sáng tạo, và tinh thần trách nhiệm để chỉ ra con đường, công bố chân lý và truyền đạt sự sống của Đức Kitô cho thế giới (xem Ga 14,6) 

Ba cách nhìn đó có liên quan tới truyền thống Giáo Hội. Truyền thống này là một kho tàng, từ đó người ta có thể rút ra cái mới, cái cũ (xem Mt 13,52). Truyền thống này cũng bao hàm các hoạt động muôn mặt của biết bao thế hệ con người đã được giáo huấn xã hội của Giáo Hội thúc đẩy dấn thân xây dựng một thế giới công bằng hơn. Họ đã tạo thành một trào lưu lớn bênh vực nhân vị và nhân phẩm.

Chương I: Những nét đặc sắc của «Tân Sự» (số 4– 11) 

1. Trong bối cảnh xã hội cuối thế kỷ XIX xuất hiện một quan niệm mới về xã hội, Nhà Nước và quyền bính; một hình thức mới của sở hữu: đó là tư bản (vốn liếng gồm các tư liệu sản xuất); một hình thức mới của lao động đó là lao động được trả thù lao trong quy trình sản xuất. Lao động được coi như một món hàng có thể mua bán, theo quy luật cung cầu.

2. Trong bối cảnh đó, xuất hiện một cuộc xung đột giữa tư bản và lao động. Đức Lêô XII thì nói: «xuất hiện vấn đề thợ thuyền», vì giới thợ thuyền bị bóc lột bởi các chủ nhân đang áp dụng chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, cũng gọi là chủ nghĩa tư bản hoang dã. Đức Lêô XIII đã lên tiếng bênh vực giới thợ thuyền bằng cách khẳng định một số quyền lợi của họ (xem chương II của Giảng trình này, phần IV, số 5) 

3. Từ sự kiện đó, Đức Gioan-Phaolô II rút ra ba kết luận:

a. Giáo Hội có quyền nói lên tiếng nói của mình về vấn đề xã hội. Học thuyết xã hội của Giáo Hội là một yếu tố thuộc nội dung sứ mạng của Giáo Hội phải loan báo Phúc Âm. Không thể có giải pháp đích thực cho vấn đề xã hội ngoài Phúc Âm (số 5,6) 

b. «Tân Sự», thông điệp về vấn đề thợ thuyền, cũng chính là một thông điệp về người nghèo, chứng tỏ Giáo Hội ưu tiên chọn lựa người nghèo. Sự chọn lựa này là một hình thức đặc biệt của việc thực hành đức bác ái Kitô giáo (số 11).

c. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội phê phán cả chủ nghĩa xã hội lẫn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, và nêu cao hai nguyên tắc:

Nguyên tắc liên đới mà 

+Đức Lêô XIII gọi bằng từ ngữ «tình thân hữu» (amitié) giữa mọi người.

+Đức Piô XI gọi bằng từ «bác ái xã hội».

+Đức Phaolô VI thì nói tới «nền văn minh của tình yêu» (số 10) 

Nguyên tắc tôn trọng nhân vị, nhân phẩm, như hình ảnh của Thiên Chúa được khắc ghi trong mỗi người (số 11) 

Chương II: Những «thực tại mới» của hôm nay.

1. Lời phê phán của Đức Lêô XIII về chủ nghĩa xã hội (học thuyết triết lý, trước khi thể hiện trong chủ nghĩa xã hội hiện thực của thể chế chính trị và Nhà Nước xã hội chủ nghĩa) thật là sáng suốt và chí lý.

Phương dược do chủ nghĩa xã hội đề xuất còn tệ hại hơn cả tệ nạn xã hội mà chủ nghĩa xã hội muốn giải quyết (sự bất công và bóc lột …) 

Điều sai lầm của chủ nghĩa xã hội nằm nơi quan niệm lệch lạc về con người và xã hội.

Chủ nghĩa xã hội – triết lý và hiện thực – đã đánh mất nhân cách của cá nhân và của xã hội.

a. Nhân cách của cá nhân là nhân vị và nhân phẩm dựa trên cơ sở là hình ảnh của Thiên Chúa. Nhân cách đó có tự do, và luôn luôn là chủ thể và cứu cánh chứ không thể trở thành sự vật và phương tiện của xã hội.

b. Nhân cách của xã hội không chỉ đồng hóa với Nhà Nước, nhưng còn được thể hiện trong thực thể gia đình và những nhóm trung gian trong lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Sai lầm lớn của chủ nghĩa xã hội là đã đồng hóa lợi ích của Đảng và Nhà nước độc tôn với lợi ích của xã hội hoặc công ích (xem số 14) 

2. Nguyên nhân sâu xa của sự đánh mất đó chính là chủ nghĩa vô thần (số 13,3- 4). Chủ nghĩa vô thần này cũng là gốc rễ của cuộc đấu tranh giai cấp, được chủ nghĩa xã hội chọn làm phương tiện đặc thù để hành động và đạt tới mục đích, là thiết lập sự chuyên chính vô sản.

Đức Giáo Hoàng Piô XI và Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II cổ võ cuộc đấu tranh (bất bạo động) cho công bằng xã hội (số 14,1).

Sau sự thiết lập chủ nghĩa xã hội hiện thực, đã xuất hiện ý thức hệ quân phiệt và quốc xã (mang tính phát-xít), cũng phát sinh từ chủ nghĩa vô thần (số 14,2). Cả hai ý thức hệ đó cùng có một mẫu số chung là quan niệm lệch lạc về tự do: theo những ý thức hệ ấy, tự do là tự yêu mình, tự tôn vinh mình đến mức coi khinh Thiên Chúa và tha nhân, và chỉ tìm lợi ích của mình hoặc phe nhóm mình, bất chấp công lý. Chủ nghĩa xã hội hiện thực và chủ nghĩa quốc xã phát-xít đã gây ra biết bao cảnh chết chóc oan ức (số 17).

Sau thế chiến II, là thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai khối cộng sản và không cộng sản được đánh dấu bởi cuộc chạy đua vũ trang.

Đó đây trong thế giới thứ ba, xảy ra chiến tranh huynh đệ tương tàn. Trên khắp thế giới có hiện tượng khủng bố ngày càng lan tràn và tàn bạo. Và có một thời thế giới sống trong mối lo sợ xảy ra chiến tranh nguyên tử (số 18).

Tại một số vùng, (đặc biệt ở Mỹ Châu La-tinh) người ta áp dụng học thuyết «an ninh quốc gia» kiểm soát chặt chẽ mọi sinh hoạt của nhân dân để ngăn chặn sự xâm nhập của chủ nghĩa Mác-xít. Nhưng các hệ thống chính trị này cũng bóp nghẹt sự tự do và quyền con người.

Tại các nước Phương Tây, đã hình thành xã hội tiêu thụ với ý hướng chứng minh cho chủ nghĩa Mác-xít thấy rằng: «Kinh tế thị trường có khả năng thỏa mãn các nhu cầu vật chất đầy đủ hơn chủ nghĩa cộng sản. Nhưng xã hội tiêu thụ ấy, với xu hướng chối bỏ luân lý và tôn giáo, lại gặp chủ nghĩa Mác-xít ở lập trường duy vật, giản lược bản chất con người vào phạm vi kinh tế» (số 19).

Một số nước thuộc thế giới thứ ba, sau khi giành độc lập và chấm dứt thời thuộc địa, lại rơi vào tình trạng lệ thuộc nước ngoài về mặt kinh tế, hoặc bị cám dỗ bởi chủ nghĩa Mác-xít và đã tạo ra một hình thức chủ nghĩa xã hội mang tính đặc thù quốc gia (số 20).

Sau kinh nghiệm rùng rợn về thế chiến II, người thời nay tỏ ra bén nhạy hơn về quyền con người. Các quyền này được công bố trong những tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc. Và người ta cũng quan tâm tới việc khẳng định các quyền của các dân tộc.

Tổ chức Liên Hiệp Quốc là một cơ quan rất cần thiết và quý báu, nhưng ảnh hưởng của nó còn hạn chế nhìn dưới góc độ của chương trình giúp phát triển các dân tộc, và tìm phương cách giải quyết các xung đột quốc tế: người ta chưa tìm được giải pháp nào khác với giải pháp chiến tranh (số 21) 

Chương III:

Trước khi xảy ra những chuyển biến quan trọng tại Đông Âu năm 1989, thì tại Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á, đã sụp đổ một số chế độ độc tài áp bức.

Giáo Hội đã luôn luôn dấn thân bênh vực quyền lợi và phẩm giá của con người, luôn luôn chủ trương rằng vấn đề phức tạp của các dân tộc có thể giải quyết bằng biện pháp đối thoại và liên đới, hơn là chiến tranh nhằm hủy diệt đối phương (số 22).

Đức Giáo Hoàng phân tích các nguyên nhân đưa tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu:

1. Nhân tố quyết định chính là sự vi phạm quyền lao động. Giới công nhân Ba Lan không còn tín nhiệm ý thức hệ Mác– Lênin đã một thời nói thay cho họ. Qua kinh nghiệm về sự áp bức và các khó khăn trong vấn đề lao động, họ đã khám phá lại những nguyên tắc của học thuyết xã hội của Giáo Hội Công giáo. Đặc điểm của cuộc sụp đổ tại Đông Âu là xảy ra do một cuộc đấu tranh hòa bình bằng khí giới chân lý và công bằng, chứ không phải bằng chiến tranh.

2. Nhân tố thứ hai là hệ thống kinh tế yếu kém, và vô hiệu. Đó không phải là một vấn đề kỹ thuật cho bằng là vấn đề vi phạm quyền con người đáng lý phải được có sáng kiến, có tài sản riêng, có tự do trong phạm vi kinh tế. Hơn thế nữa, con người cũng phải được tự do trong đời sống văn hóa và tôn giáo. Chủ nghĩa vô thần đã tạo ra sự trống rỗng tinh thần cho nhiều thế hệ. Chủ nghĩa Mác-xít đã quyết tâm nhổ tận gốc sự khát khao Thiên Chúa trong lòng con người, nhưng kết quả thực tế cho thấy rằng làm như vậy là đảo lộn chính cõi lòng con người (sô 24).

3. Ảnh hưởng và hậu quả của các chuyển biến tại Đông Âu không chỉ giới hạn tại Đông Âu mà lan ra khắp cả thế giới.

a. Hậu quả thứ I là cuộc gặp gỡ giữa Giáo Hội và phong trào công nhân. Phong trào này gồm những công nhân và những người thiện chí đấu tranh cho nhân vị và quyền con người. Họ đang ngước mắt nhìn về phía Giáo Hội.

Các biến cố Đông Âu 1989 chứng tỏ rằng cố gắng của những người thành tâm tìm kiếm một sự thỏa hiệp giữa chủ nghĩa Mác-xít và Kitô giáo là vô vọng. Sự thỏa hiệp đó không thể có được. Người ta phải khẳng định tính tích cực của nền thần học giải phóng đích thực là giải phóng toàn diện con người (số 26) 

b. Hậu quả thứ 2 liên quan tới Châu Âu:

+Sự sụp đổ của các chế độ độc tài có thể làm bùng lên sự trả thù bằng bạo lực (số 27) 

+Tại các nước trước đây theo chủ nghĩa cộng sản, nay phải cải tổ tận gốc hệ thống kinh tế và tái thiết đất nước như trong thời hậu chiến. Họ cần được các quốc gia khác giúp đỡ. Nhưng điều đó không có nghĩa là giảm bớt sự giúp đỡ dành cho các nước thế giới thứ ba (số 28) 

c. Sự giúp đỡ phát triển không chỉ giới hạn vào phạm vi kinh tế, mà phải hướng tới sự phát triển toàn diện con người, nhằm 

+Xây dựng một đời sống xứng đáng hơn, 

+Làm tăng trưởng phẩm giá và khả năng sáng tạo của mỗi người và khả năng của họ đáp lại tiếng Chúa gọi.

Sự phát triển phải tôn trọng quyền lương tâm của con người.

Phải khẳng định nguyên tắc đó vì ba lý do:

Vẫn có nguy cơ các chế độ độc tài sống lại.

Ngành quảng cáo và tuyên truyền của các nước phát triển đôi khi quá đề cao các giá trị thực dụng, kích thích xu hướng tìm hưởng thụ tức thời, và do đó làm đảo lộn bậc thang các giá trị.

Trong một số quốc gia đang xuất hiện những hình thức mới của quan điểm tôn giáo hẹp hòi (Fondamentalisme), với đặc điểm là sự cuồng tín và chính sách phân biệt đối xử đối với những nhóm tôn giáo thiểu số.

Đức Giáo Hoàng đòi hỏi cho Giáo Hội được quyền tự do rao giảng Phúc Âm và cho mọi người được quyền tự do đón nhận Đức Kitô (số 29).

Chương IV:

Quyền tư hữu là quyền cho phép mọi người hưởng dùng của cải của trái đất.

Đây là chương trọng tâm của Thông điệp, trong đó Đức Giáo Hoàng đề cập tới vấn đề kinh tế bằng một ngôn ngữ phi thường và đầy sức mạnh.

1. Đức Giáo Hoàng khẳng định rằng có sự duy nhất và liên tục trong giáo huấn của Giáo Hội về hai quyền đó (số 30).

2. Về nguồn gốc của cải, đối tượng của hai quyền đó, Đức Giáo Hoàng nói:

a. Thiên Chúa đã tạo dựng trái đất và loài người, và ban trái đất cho cả loài người, mà không loại trừ ai và không ưu đãi ai (St 1,28– 29). Đó là nguồn gốc của quyền cho phép mọi người được hưởng dùng của cải của trái đất.

b. Con người dùng lao động, với trí tuệ và sự tự do để làm chủ trái đất và biến nó thành ngôi nhà thích hợp. Mỗi người chiếm dụng một phần đất. Đó là nguồn gốc của quyền tư hữu. Nhưng không ai có quyền ngăn cản người khác hưởng dùng ân ban chung của Thiên Chúa. Mọi người phải cộng tác với nhau để cùng làm chủ trái đất.

c. Đất đai và lao động luôn luôn là hai nhân tố thành lập một xã hội.

Trong quá khứ, sự phì nhiêu của đất đai là nhân tố chính tạo ra sự giàu có, còn lao động là nhân tố hỗ trợ cho sự phì nhiêu của đất đai và giúp cho thiên nhiên tạo ra sản phẩm của nó.

Hiện nay: lao động đang trở thành một nhân tố ngày càng quan trọng trong quy trình sản xuất ra sự giàu có vật chất và phi vật chất; 

+ Lao động ngày càng mang tính chất liên vị và liên đới: lao động là lao động với người khác và cho người khác;

+ Lao động làm một cái gì đó cho một ai đó (31) 

d. Một hình thức khác của sở hữu ngày nay là Sở hữu kiến thức và khoa học kỹ thuật.

+Trong quá khứ, nhân tố quyết định nền sản xuất là đất đai, 

+Rồi đến một thời là tư bản (nghĩa là toàn bộ máy móc và các tư liệu sản xuất) 

+Ngày nay là chính con người, với khả năng hiểu biết khoa học kỹ thuật, tổ chức quy trình sản xuất và nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng để tìm cách đáp ứng (33) 

+Nhìn dưới góc độ hình thức sở hữu mới này, thế giới thứ ba có nguy cơ bị đẩy ra lề, không theo kịp đà tiến của các nước phát triển. Thậm chí có những người còn là nạn nhân của sự bóc lột phi nhân, của những hình thức tư bản chủ nghĩa hoang dã tương tự như trong thời cách mạng công nghệ thế kỷ 19 (33).

4. Đức Giáo Hoàng nhìn nhận rằng thị trường tự do là phương thế thích hợp nhất để phân phối của cải và đáp ứng các nhu cầu của con người. Nhưng con người có những nhu cầu mà thị trường không thể đáp ứng được, như nhu cầu hiểu biết, có những mối tương quan xã hội rộng rãi, và phát huy các năng khiếu của mình.

Trước khi ứng dụng cái lô-gích của sự trao đổi bình đẳng (bằng công bằng giao hoán), xã hội phải bảo đảm cho mỗi người được quyền hưởng những điều cần thiết, với tư cách là con người, để sống được và cống hiến tích cực cho công ích (34) (Đức Giáo Hoàng ám chỉ công bằng phân phối và nhất là công bằng xã hội).

5. Giáo Hội công nhận vai trò hợp lý của lợi nhuận, như một dấu hiệu của xí nghiệp đang vận hành tốt. Nhưng đó không phải là tiêu chuẩn duy nhất, bởi vì xí nghiệp còn phải trở thành một cộng đồng mang tính người tình người, tìm cách đáp ứng những nhu cầu căn bản của chính cộng đồng và phục vụ toàn thể xã hội.

Từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực, có người vội kết luận rằng phải tổ chức đời sống kinh tế theo mô hình tư bản chủ nghĩa là mô hình duy nhất còn lại. Đức Giáo Hoàng không chấp nhận lập luận đó. Ngài kêu gọi:

a. Phải phá bỏ các rào chắn và các thứ độc quyền đầu cơ đang ngăn cản nhiều dân tộc bước vào cuộc phát triển.

b. Các nước giàu hãy tạo điều kiện cho các nước nghèo hội nhập vào đời sống quốc tế.

c. Các nước nghèo hãy ổn định đời sống chính trị và kinh tế bằng cách nâng cao khả năng chuyên môn của giới công nhân và cấp lãnh đạo chính quyền.

Ngài cũng nói lên ý kiến của ngài về vấn đề nợ nước ngoài, mà những nước nghèo nhất đang gánh chịu:

Mắc nợ thì phải trả nợ, nguyên tắc đó chắc chắn là công bằng rồi (theo công bằng giao hoán).

Nhưng không được phép đòi một nước nghèo trả nợ, khi điều đó có nghĩa là bó buộc nước ấy chọn những giải pháp chính trị xô đẩy đám đông dân chúng vào tình trạng chết đói hoặc tuyệt vọng. Không được phép đòi một nước nghèo trả nợ bằng những hy sinh không thể chịu đựng nỗi. Trong những trường hợp đó, cần tìm cách giảm nhẹ, hoặc cho khất hoặc thậm chí hủy bỏ hết nợ nần. Điều đó là phù hợp với quyền cơ bản của các dân tộc được tồn tại và tiến bộ (35) 

6. Suy nghĩ về xã hội tiêu thụ tại các nước phát triển:

Con người đòi hỏi chất lượng của hàng hóa, của các dịch vụ, của môi trường và của đời sống.

 Nhưng để thỏa mãn các nhu cầu, cần phải xuất phát từ một cái nhìn toàn diện về con người, theo đó các chiều kích thể lý và bản năng phải phục tùng các chiều kích nội tâm và tinh thần. Cần giáo dục người tiêu dùng, người sản xuất và các chuyên gia truyền thông xã hội về tinh thần trách nhiệm. Ngoài ra công quyền cũng phải can thiệp khi cần, để bảo vệ một lối sống hướng về Chân, Thiện, Mỹ (36) 

7. Đi kèm với nền văn minh tiêu thụ, có vấn đề bảo vệ sinh thái hoặc môi sinh (écologie).

a. Sự phá hoại thiên nhiên có hai nguyên nhân sâu xa:

+Đó là lòng ham muốn chiếm hữu và hưởng thụ (avoir) hơn là phát huy nhân tính và tăng trưởng nhân phẩm (être), không biết thưởng thức và yêu quí thiên nhiên.

+Không chấp nhận làm người cộng tác của Thiên Chúa để quản lý thiên nhiên, mà lại muốn chiếm đoạt vị trí của Thiên Chúa để trở thành một bạo chúa thống trị thiên nhiên (37) 

b. Song song với sự phá hoại môi trường thiên nhiên, có hiện tượng phá hoại «môi sinh nhân bản». Người ta không quan tâm đủ tới việc bảo vệ môi sinh nhân bản ấy. Người ta quên rằng, tương tự như thiên nhiên được ban cho con người, thì con người cũng được Thiên Chúa ban cho thiên nhiên, do đó con người phải tôn trọng cơ cấu tự nhiên và luân lý mà Thiên Chúa đã gắn vào tâm tính con người.

+Hiện tượng đô thị hóa đặt ra vấn đề bảo vệ môi sinh xã hội: nghĩa là môi trường sống và môi trường lao động của con người (38) 

+Bảo vệ môi sinh nhân bản, có nghĩa là bảo vệ gia đình, như cơ cấu căn bản của đời sống con người, và điều đó có nghĩa là bảo vệ hôn nhân.

Phải chống lại xu hướng coi cuộc sống như một tổng hợp những cảm giác để thể nghiệm, chứ không phải như một công trình để thực hiện.

Gia đình phải được coi như «thánh điện của sự sống» và người ta phải vun trồng nền văn hóa của sự sống, chứ không phải nền văn hóa của sự chết (ngừa thai, phá thai) (39).

c. Môi sinh thiên nhiên cũng như môi sinh nhân bản là những của cải tập thể mà xã hội và nhất là Nhà Nước có nhiệm vụ bảo vệ, chứ không thể để mặc cho qui luật thị trường chi phối (40) 

8. Suy nghĩ về sự tha hóa hoặc vong thân: Chủ nghĩa Mác-xít trách móc xã hội tư bản đã làm tha hóa con người và biến con người thành một món hàng. Chủ nghĩa Mác-xít qui trách nhiệm tha hóa con người cho cơ chế thị trường tự do, và quả quyết rằng phương thế chữa trị chỉ có thể là chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tập thể. Kinh nghiệm lịch sử của các nước xã hội chủ nghĩa đã chứng minh rằng lời phê bình đó là sai. Chủ nghĩa xã hội không loại bỏ mà còn làm gia tăng sự tha hóa: con người đánh mất chính mình, sự tự do và các quyền lợi chính đáng của mình. Thêm vào đó phải kể tới nền kinh tế vô hiệu và sự khan hiếm của cải tiêu dùng.

Nhưng trong các nước Phương Tây, cũng có hiện tượng tha hóa, tiềm tàng trong:

– chủ nghĩa tiêu thụ, 

– và sự cạnh tranh quá đáng, đến nỗi chỉ nhìn con người như phương tiện, chứ không phải cứu cánh.

«Con người bị tha hóa, khi từ chối vượt quá chính mình, từ chối sống kinh nghiệm hiến dâng chính mình, từ chối tạo lập một cộng đồng đích thực có tình người và hướng tới cùng đích là «hiệp thông với Thiên Chúa».

«Một xã hội bị tha hóa», khi bằng những cách thức tổ chức đời sống xã hội, tổ chức nền sản xuất và tiêu thụ, xã hội đó cản trở các thành viên của mình trao hiến cho nhau và sống tình liên đới với nhau.

Tha hóa là đánh mất tự do, khi chỉ bận tâm tới việc chiếm hữu và hưởng thụ thật nhiều, đến nỗi không còn chế ngự được các bản năng và đam mê, và không còn tùng phục chân lý nữa (41).

9. Sau thất bại của chủ nghĩa cộng sản, phải chăng chủ nghĩa tư bản là mô hình nên đề nghị cho thế giới thứ ba ?

Theo Đức Giáo Hoàng:

a. Nên đề nghị hệ thống «kinh tế xí nghiệp» còn gọi là «Kinh tế thị trường» hoặc «kinh tế tự do» nhìn nhận vai trò căn bản và tích cực của xí nghiệp, của thị trường, của tư hữu và trách nhiệm đối với các phương tiện sản xuất, và của óc sáng tạo trong lãnh vực kinh tế;

b. Phải loại trừ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh vô giới hạn theo đà thúc đẩy của sức mạnh thị trường mà thiếu cái khung pháp luật vững chắc. Cái khung này có vai trò hướng sự tự do kinh tế vào việc phục vụ thực sự cho toàn bộ sự tự do của con người, gồm cả đời sống luân lý và tôn giáo, chứ không chỉ có đời sống kinh tế mà thôi (42) 

10. Cuối cùng Đức Giáo Hoàng khẳng định lại một số luận điểm trong học thuyết xã hội của Giáo Hội:

a. Giáo Hội không có sẵn một mô hình xã hội nào để đề nghị cả. Việc chọn lựa mô hình cụ thể thuộc thẩm quyền của những người có trách nhiệm tổ chức đời sống xã hội trong từng hoàn cảnh lịch sử. Trách nhiệm của Giáo Hội là trình bày một định hướng trí tuệ cần thiết, chứa đựng trong học thuyết xã hội của Giáo Hội.

b. Giáo Hội nhìn nhận tính tích cực của thị trường và xí nghiệp, nhưng nhấn mạnh rằng hai cơ chế đó phải hướng tới việc xây dựng công ích.

c. Giáo Hội công nhận quyền chính đáng của các công nhân tranh đấu cho phẩm giá của mình được tôn trọng và cho mình được tham gia ngày càng rộng rãi vào đời sống xí nghiệp.

 Cần mở rộng phong trào công đoàn để đấu tranh cho sự giải phóng và thăng tiến toàn diện con người, sao cho xí nghiệp không chỉ là một «xã hội xây trên vốn», nhưng còn là một «xã hội gồm những nhân vị», một «cộng đồng có tính người và tình người», trong đó có người góp của, có người góp công sức lao động mà vẫn vận dụng được trí tuệ và sự tự do của mình.

d. Quyền có của cải riêng là phù hợp với bản tính con người có trí tuệ và tự do.

 + Con người lao động để đáp ứng nhu cầu của bản thân, của gia đình, của cộng đồng mà mình là thành viên, của đất nước và cả loài người trong sự liên thuộc và liên đới.

 + Sở hữu các phương tiện sản xuất công nghiệp cũng như nông nghiệp là quyền chính đáng và hợp lẽ công bằng, nếu điều đó tạo ra công ăn việc làm, nghĩa là tạo ra lao động hữu ích.

 Nhưng sẽ là không chính đáng, nếu các phương tiện sản xuất ấy không sinh lợi ích gì cả, hoặc việc sở hữu chúng ngăn cản người khác có công ăn việc làm, – hoặc nếu người sở hữu chúng tìm lợi nhuận bằng phương thức khai thác bất hợp pháp, bằng sự đầu cơ độc quyền và bằng cách hạn chế sự phát triển chung của xã hội nhìn dưới góc độ lao động và của cải phải làm ra cho xã hội. Nói tóm lại, bằng cách phá vỡ sự liên đới trong thế giới lao động. Sở hữu như thế là không thể chấp nhận trước mặt Thiên Chúa và mọi người (43) 

Chương V: Nhà Nước và Văn hóa.

Chương này trình bày một lý thuyết chính trị, một học thuyết về Nhà Nước và Công quyền, có những điểm khác với lý thuyết Mác-xít và các nền dân chủ phương tây.

1. Trong «Tân Sự», Đức Gioan-Phaolô II nhắc tới công trạng của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII là đã nhìn nhận cách phân chia công quyền thành ba thẩm quyền: Lập pháp – Hành Pháp – Tư Pháp. Thuyết tam quyền phân lập này phản ánh một quan niệm thực tế về bản chất xã hội của con người; theo quan niệm đó, cần có một pháp chế thích hợp để bảo vệ quyền tự do của mọi người, và mỗi thẩm quyền cần phải được giữ trong thế quân bình với những thẩm quyền khác và trong giới hạn của mình. Đó là nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho «Nhà Nước pháp quyền». Theo nguyên tắc đó chủ quyền, cũng gọi là quyền tối cao, thuộc về pháp luật, chứ không thuộc về ý muốn tùy tiện của một người hoặc một nhóm người.

a. Chủ nghĩa tập quyền độc tài dưới dạng Mác Lênin đi ngược lại quan niệm trên đây và quả quyết rằng: một số người nào đó, vì hiểu biết sâu sắc quy luật phát triển của xã hội, hoặc vì thuộc giai cấp lao động và tiếp cận được các nguồn mạch của ý thức tập thể, nên có thể chiếm lĩnh một quyền hành tuyệt đối.

Chủ nghĩa tập quyền độc tài ấy phát sinh từ sự chối bỏ phẩm giá siêu việt của con người và chối bỏ chân lý khách quan và siêu việt.

Sự chối bỏ này đem lại hậu quả là không tìm được một nguyên lý chắc chắn làm nền tảng cho những mối quan hệ, công bằng giữa con người với con người (45) 

b. Giáo Hội đánh giá cao chế độ dân chủ. Nhưng chỉ có dân chủ thật trong một Nhà Nước Pháp Quyền và trên cơ sở một quan niệm đúng đắn về nhân cách của con người và của xã hội (xem chương II) 

+Nhân cách của con người hệ tại chỗ con người là một chủ thể, có những quyền bất khả di nhượng và bất khả xâm phạm;

+Nhân cách của xã hội được phát huy nhờ những cơ chế cho phép mọi người tham gia vào trách nhiệm điều hành đời sống xã hội (đó là gia đình, các nhóm trung gian, các đoàn thể …) 

Các chế độ dân chủ, kể cả ở phương Tây, cũng chưa tôn trọng đầy đủ các quyền đích thực và sâu sắc của con người. Đức Giáo Hoàng nêu lên những quyền chính yếu như:

+Quyền được sống, kể cả sự sống của bào thai trong bụng mẹ;

+Quyền được sống trong một gia đình hợp nhất;

+Quyền phát triển trí tuệ và tự do;

+Quyền lao động để tạo nên của cải nhằm đảm bảo đời sống cho bản thân và các người thân;

+Quyền tự do kết hôn, sống đời sống tính dục trong tinh thần trách nhiệm, đón nhận và giáo dục con cái.

+Quyền tự do tôn giáo, như là nguồn mạch và sự tổng hợp của các quyền nêu trên, nghĩa là quyền được sống trong chân lý của niềm tin và sống phù hợp với phẩm giá siêu việt của nhân vị.

Nhiều quyết định quan trọng trong đời sống xã hội bị chi phối bởi những nhóm người nắm giữ thế lực tài chánh hoặc có khả năng gây ảnh hưởng trên các cuộc bầu cử, thay vì dựa vào các tiêu chuẩn luân lý và công bằng xã hội.

Tình trạng này dẫn tới sự giảm sút tinh thần công dân và sự tham gia của quần chúng vào đời sống chính trị và việc xây dựng công ích.

Một chế độ dân chủ mà không tôn trọng những giá trị siêu việt, sẽ dễ biến thành chủ nghĩa tập quyền độc tài cách ngấm ngầm hoặc ngang nhiên (46– 47).

2. Đức Giáo Hoàng xác định quan điểm của Giáô Hội về vai trò Nhà Nước. Đó là:

a. Tạo điều kiện đảm bảo mọi quyền của mọi công dân.

b. Kiểm soát và hướng dẫn việc áp dụng quyền con người trong phạm vi kinh tế (Đức Giáo Hoàng củng cố lời phê phán của các vị tiền nhiệm đối với quan niệm của chủ nghĩa tư bản hoang dã), 

+Nhà Nước có quyền can thiệp để loại trừ hiện tượng đầu cơ độc quyền.

+Nhà Nước có thể giữ vai trò bổ sung hoặc thay thế tạm thời các sinh hoạt yếu kém của các xí nghiệp và các nhóm trung gian, nhằm tạo công ăn việc làm và giải quyết các cơn khủng hoảng kinh tế.

Quyền kiểm soát, hướng dẫn và can thiệp nêu trên đây nằm trong chức năng căn bản của Nhà Nước là bảo vệ và xây dựng công ích.

c. Nhà Nước phải tôn trọng nguyên tắc bổ trợ, để khỏi rơi vào nguy cơ trở thành Nhà Nước bao cấp hoặc Nhà Nước viện trợ (Etat de lassistance), với hậu quả làm tê liệt ý thức trách nhiệm và tinh thần sáng tạo của quần chúng, và tạo ra óc quan liêu trong guồng máy hành chánh (48) 

3. Quan điểm cổ truyền của Đức Giáo Hoàng nhìn Nhà Nước trong quan hệ với công ích. Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II nới rộng quan điểm ấy bằng cách nhìn Nhà Nước trong quan hệ với văn hóa, văn hóa của mỗi quốc gia và của cộng đồng các quốc gia.

a. Phải chấp nhận để cho thế hệ trẻ kiểm nghiệm trong cuộc sống hiện tại những giá trị thừa kế từ những thế hệ trước và được các thế hệ trước trao lại. Tiêu chuẩn để lượng định giá trị văn hóa là chân lý về con người.

Một nền văn hóa khép kín và tìm cách bảo thủ những tập tục lỗi thời sẽ trở nên cằn cỗi và sẽ suy tàn (50) 

b. Giáo Hội đóng góp một sự cống hiến đặc biệt và mang tính chất quyết định cho văn hóa thế giới, bằng cách:

+rao giảng chân lý về con người: là nhân vị mang hình ảnh Thiên Chúa và chủ thể có những quyền bất khả xâm phạm.

+Rao giảng chân lý về thế giới do Thiên Chúa tạo dựng và trao cho con người để phát triển và kiện toàn bằng lao động.

+Rao giảng chân lý về công cuộc cứu độ thế giới do Đức Kitô, Con Thiên Chúa, thực hiện.

+Cổ võ công cuộc xây dựng hòa bình bằng việc loại trừ chiến tranh và nhất là bằng sự «Phát Triển Các Dân Tộc», vì phát triển là tên gọi mới của hòa bình (51– 52) 

Chương VI: Con người là con đường của Giáo Hội.

1. Từ thông điệp «Tân Sự» đến nay, Giáo Hội liên lỉ theo dõi nhịp tiến hóa của vấn đề xã hội, không phải để tìm lại những đặc ân cũ trong quá khứ hoặc áp đặt quan điểm của mình cho ai cả. Mục đích duy nhất của Giáo Hội khi làm việc đó là thể hiện sự quan tâm và mối bận tâm cũng như trách nhiệm của mình đối với loài người do Đức Kitô trao phó cho mình để phục vụ và chăm sóc.

Đức Gioan-Phaolô II diễn tả lại ý tưởng đó cách cô đọng trong câu nói: «Con người là con đường của Giáo Hội, là con đường thứ nhất mà Giáo Hội phải đi qua khi chu toàn sứ mạng của mình» («Đấng Cứu Chuộc Con Người», số 13; «Bách Chu Niên» số 53).

Đó là nguyên tắc duy nhất gợi hứng cho học thuyết xã hội của Giáo Hội (53).

2. Học thuyết xã hội và công cuộc Phúc Âm hóa

a. Học thuyết xã hội của Giáo Hội là một khí cụ của công cuộc Phúc Âm hóa, vì học thuyết ấy loan báo cho mọi người biết Thiên Chúa và mầu nhiệm cứu độ trong Đức Kitô và bằng cách đó, mạc khải cho con người biết bản chất con người. Chỉ dưới ánh sáng ấy, học thuyết xã hội đề cập tới những vấn đề còn lại:

+Quyền con người, đặt biệt quyền của giới vô sản, 

+Gia đình và vấn đề giáo dục,

+Bổn phận của Nhà Nước,

+Cách tổ chức đời sống xã hội cấp quốc gia và quốc tế, 

+Đời sống kinh tế, văn hóa, 

+Chiến tranh và hòa bình,

+Tôn trọng sự sống từ khi còn là bào thai đến khi kết thúc cuộc đời.

b. Học thuyết xã hội của Giáo Hội thuộc phạm vi khoa thần học, đặc biệt khoa thần học luân lý. Chính Kinh Thánh mạc khải cho Giáo Hội biết ý nghĩa của con người và nhờ đó có cảm thức về con người.

«Để biết con người, con người đích thực, con người toàn diện, thì cần phải biết Thiên Chúa» (Đức Giáo Hoàng Phaolô VI).

+Chủ nghĩa vô thần cắt bỏ mất chiều kích tâm linh của con người, 

+Chủ nghĩa tiêu thụ cầm hãm con người trong não trạng ích kỷ, rất có hại cho bản thân và tha nhân.

+Về phần mình, Giáo Hội đem hết sức lực và vận dụng những phương pháp luôn mới mẻ để thực hiện công cuộc Phúc Âm hóa nhằm phát triển toàn diện con người (55) 

c. Học thuyết xã hội của Giáo Hội trình bày sứ điệp Phúc Âm liên quan đến xã hội. Đó không phải là một lý thuyết suông nhưng là một nền móng và một động cơ thúc đẩy hành động.

Nhờ sức mạnh của Phúc Âm thúc đẩy,

+một số Kitô hữu của Giáo Hội tiên khởi đã phân phát hết của cải cho người nghèo. Điều đó chứng tỏ rằng những con người thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau, vẫn có thể chung sống hài hòa, liên đới với nhau, 

+Từ bao nhiêu thế kỷ nay các đan sĩ khai hoang canh tác đất đai, trồng trọt hoa màu, 

+Các tu sĩ và nữ tu mở nhà thương, viện tế bần, viện dưỡng lão và nhà trường …

+Các hiệp hội và đoàn thể trong Giáo hội dấn thân phục vụ những người bần cùng và bị xã hội bỏ rơi.

Chính chứng từ của những công việc thiết thực ấy làm cho sứ điệp xã hội của Phúc Âm trở nên khả tín hơn là tính lý luận chặt chẽ của học thuyết.

Với xác tín đó, Giáo Hội ưu tiên chọn lựa người nghèo, mà vẫn không loại trừ bất cứ một nhóm người nào khác, với ý thức rằng xã hội hiện tại có nhiều dạng thức mới của cái nghèo: không chỉ có cái nghèo kinh tế, mà còn có cái nghèo văn hóa và tôn giáo nữa (57).

Để thể hiện tình thương đối với con người, nhất là người nghèo, Giáo Hội dấn thân xây dựng công bằng:

+Giáo Hội xin mọi người đừng nhìn người nghèo như một gánh nặng hoặc một kẻ quấy rầy, nhưng hãy nhìn họ như một lời mời gọi mình làm việc thiện và một cơ hội cho mình làm giàu về nhân đức.

+Giúp đỡ người nghèo, không chỉ có nghĩa lấy của dư thừa mà bố thí, nhưng còn là tạo điều kiện cho người nghèo và cả những dân tộc đang bị đẩy ra lề xã hội có thể bước vào quỹ đạo phát triển kinh tế và nhân bản.

+Cách giúp đỡ tốt không chỉ lấy của dư thừa mà cho, nhưng tiên vàn là thay đổi lối sống, thay đổi các mô hình sản xuất và tiêu thụ, thay đổi các cơ chế quyền lực đang chi phối xã hội nhằm xây dựng công ích của cả gia đình nhân loại.

+Đứng trước hiện tượng nền kinh tế đang ngày càng mang chiều kích thế giới: toàn cầu hóa nền kinh tế), chúng ta cảm thấy cần phải có những cơ quan quốc tế để kiểm soát và hướng dẫn nền kinh tế đó với sự quan tâm đầy đủ dành cho những nước có vị trí yếu kém trên thị trường quốc tế (58) 

3. Giáo hội từ thời Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, nhất là từ thời Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã kêu gọi nhiều người, «mọi người thiện chí», hiệp lực để giải quyết vấn đề xã hội. Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II xác tín rằng:

a. Có rất nhiều người tuy không theo một tôn giáo nào nhưng có khả năng tạo môt nền tảng luân lý làm điểm tựa để giải quyết vấn đề xã hội.

b. Các tôn giáo đóng một vai trò quan trọng hôm nay và ngày mai trong công việc bảo vệ hòa bình và xây dựng một xã hội xứng hợp với phẩm giá con người.

Tương tự như Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã thấy «một ách giống như ách nô lệ» đè nặng trên giới thợ thuyền vô sản vào cuối thế kỷ XIX, và đã lên tiếng bênh vực họ, ngày nay vào cuối thế kỷ XX, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II cũng thấy một «ách giống như ách nô lệ» đang đè nặng trên nhiều đám đông trong các nước trên đường phát triển của thế giới thứ ba, và ngài buộc phải lên tiếng thẳng thắn tố giác tình trạng thực tế đó. Ngài khẳng định: trong thiên niên kỷ thứ ba, Giáo Hội sẽ tiếp tục cách trung thành chọn con người làm con đường của mình, với ý thức rằng Giáo Hội không bước đi một mình, nhưng đồng hành với Chúa Kitô, là Đấng cũng đã đảm nhận con đường mà loài người làm con đường của mình và không ngừng hướng dẫn loài người, cho dầu loài người không nhận thấy điều đó.

● Lượng định

1. Bài phân tích khá chi tiết trên đây cho thấy: thông điệp «Bách Chu Niên» mang một nội dung rất phong phú và đề cập tới những vấn đề hệ trọng của thế giới. Chắc chắn đây là một văn kiện lớn đang gây âm hưởng tích cực trên thế giới. Tiếng nói của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II được các xu hướng chính trị khác nhau đón nhận với nhiều thiện cảm.

Sau khi đọc bức Thông điệp, Francette Lazard, cột trụ của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Pháp, lên tiếng trên báo Nhân Đạo (LHumanité) đề nghị với Đức Giáo Hoàng những «chương trình hành động chung».

Một số chính khách của nước Hồi giáo Indonêsia lên tiếng ca ngợi thông điệp «Bách Chu Niên» đã báo động và kêu gọi cảnh giác trước những «lề thói vô luân» của chủ nghĩa tư bản (xem Công giáo và Dân tộc số 816, ngày 21-7-1991, trang 9).

Michael Novak, cột trụ của chủ nghĩa tư bản mang tính chiến đấu, tuyên bố rằng «Bách Chu Niên» hẳn là Thông điệp lớn nhất của thế kỷ này.

Nhà báo Patrice De Plunkett, trên tờ báo Figaro- Magazine ngày 11-5-1991, (trang 92– 94) nhận định rằng thông điệp này đánh dấu một «cuộc cách mạng luân lý, một cuộc cách mạng tận căn, làm đảo lộn những cung cách sống thường được coi là hiện tại». «Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II không đến từ cánh tả, cũng không đến từ cánh hữu, nhưng ngài nói từ trên cao», «bằng một ngôn ngữ đầy sức mạnh phi thường», đặc biệt trong chương IV là chương trọng tâm của Thông điệp.

2. Thông điệp này chứa đựng ba sứ điệp gây ấn tượng mạnh:

Đức Giáo Hoàng bênh vực cho thế giới thứ ba,

Ngài biện hộ cho các nước Đông Âu, 

Ngài mạnh mẽ cảnh cáo các nền dân chủ phương Tây về các lệch lạc nghiêm trọng.

Cùng với hai thông điệp xã hội trước đó là «Lao Động của Con Người» (1981) và «Mối Bận Tâm về Vấn Đề Xã Hội» (1987), Thông điệp «Bách Chu Niên» chứng tỏ rõ ràng Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II quả đúng là một «lực sĩ của Thiên Chúa», đấu tranh không mệt mỏi cho công bằng xã hội, cho phẩm giá và quyền con người, đồng thời cho quyền của Thiên Chúa nữa. Chính thông điệp mới này phản ánh đầy đủ các thao thức và bản lãnh của Ngài (xem Phần A của chương VIII).

3. Riêng những lời phê bình của Ngài dành cho chủ nghĩa Mác-xít thì vừa thẳng thắn, khách quan, vừa thanh thản, xây dựng. Những lời phê bình đó nhằm vào chủ nghĩa xã hội hiện thực của thời đại trước Pérestroika, công cuộc cải tổ do Mikhain Góocbachóp chủ xướng tại Liên Xô, và trước công cuộc Đổi Mới tại Việt Nam do Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1986) phát động và được Đại Hội VII (1991) tiếp tục đẩy mạnh. Không những các thay đổi tận gốc xảy ra tại Đông Âu (1989), mà cả những chuyển biến đang diễn ra tại Liên Xô, Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa khác cho thấy: những lời phê bình của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II là sát với thực tế và quan điểm xã hội của Giáo hội Công giáo đang từng bước bắt gặp cuộc tiến hóa hiện nay của đời sống xã hội tại các nước xã hội chủ nghĩa. Đúng như ngài nói là Kitô giáo không thể thỏa hiệp với chủ nghĩa Mác-xít trên bình diện ý thức hệ duy vật vô thần (xem số 26,5), nhưng học thuyết xã hội của Giáo Hội và cuộc tiến hóa của các nước xã hội chủ nghĩa, được nhìn như những thực tế lịch sử, đang tiến triển đồng chiều. Và đó là một dấu chỉ hy vọng đáng kể cho tương lai.

 

 

Chương 9

 

 

TỔNG KẾT MỘT THẾ KỶ 

GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI

VỀ VẤN ĐỀ xã hội

 

 

I. Quá trình hình thành

1. «Tân Sự» (1891) đánh dấu sự bừng tỉnh chính thức của Giáo Hội về vấn đề xã hội, và sự khởi đầu giáo huấn chính thức và có hệ thống của Giáo Hội về vấn đề này. Đức Lêô XIII đã quyết định đi đến với giới thợ thuyền như đối tượng ưu tiên của mối bận tâm của người về vấn đề xã hội.

2. «Tứ Thập Niên» (1931) khẳng định và triển khai giáo huấn của «Tân Sự», nhưng Đức Piô XI đặc biệt nhấn mạnh công bằng xã hội (xem ghi chú chuyên đề của chương III) và vai trò của giáo dân trong việc cải tổ xã hội. Ngài vẫn theo sát quan điểm của Đức Lêô XIII: tập trung sự chú ý và giới công nhân trong môi trường công nghệ của mỗi quốc gia.

3. Đức Piô XII:

Triển khai nguyên tắc «bổ trợ» đã được Đức Piô XI đề cập và đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc ấy trong vai trò của công quyền đối với việc tổ chức đời sống xã hội (xem Ghi chú chuyên đề của chương IV).

Bắt đầu quan tâm tới chiều kích thế giới của vấn đề xã hội.

4. Đức Gioan XXIII:

Với «Mẹ Và Thầy» (1961), khẳng định quan điểm mở rộng tầm nhìn về công bằng xã hội:

+Từ giới công nhân của lãnh vực công nghiệp đến giới nông dân của lãnh vực nông nghiệp.

+Từ phạm vi hai giai cấp chủ nhân và công nhân đến quan hệ giữa các nước giàu và các nước nghèo.

+Khuyến khích dùng phương pháp Xem– Xét– Làm .

Với «Hòa Bình Trên Trái Đất» (1963):

+Ngài tập trung vào chủ đề «Hòa Bình» xây trên nền tảng trật tự do Thiên Chúa thiết lập. Các vấn đề xã hội được tập hợp quanh chủ đề đó.

+Ngài tạo ra ý niệm mới: «Dấu chỉ thời đại» và đề cập tới một số dấu chỉ đó

5. Công đồng Vatican II với hiến chế «Vui Mừng Và Hy Vọng» (1965) đã đúc kết giáo huấn của các Giáo Hoàng trước đó thành một tổng hợp quân bình với một quan niệm năng động về con người, về xã hội và đời sống kinh tế. Công đồng cổ võ một đường hướng kinh tế vừa mang tính nhân vị vừa mang tính cộng đồng mà trong đó vị trí trọng tâm phải được dành cho con người như là:

Chủ thể

Cùng đích

Và vai chính của cuộc phát triển.

Công đồng vạch ra những đường hướng trung dung tổng hợp khuynh hướng xã hội hóa và khuynh hướng nhân vị hóa.

6. Đức Phaolô VI:

Với thông điệp «Phát Triển Các Dân Tộc» (1967) đã triển khai chủ đề Hòa bình từ nay mang tên gọi mới là phát triển. Ngài đào sâu chủ đề Hòa bình của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII nhưng triển khai ý niệm «Trật tự» theo một quan điểm năng động:

+Trật tự nơi cá nhân là kết quả của sự phát triển toàn diện mọi khía cạnh của con người.

+Trật tự giữa các dân tộc là kết quả của sự phát triển liên đới.

Hòa bình đích thực phải được xây dựng trên trật tự như là thành quả của sự phát triển.

Với Tông thư «Bát Thập Niên» (1971), ngài bắt mạch tình trạng xã hội 80 năm sau «Tân Sự». Tuy không tập trung vào một chủ đề, nhưng ngài nhấn mạnh sự biện phân phải thực hiện trong tinh thần trách nhiệm. Ngài ứng dụng sự phân biệt nổi tiếng của Đức Gioan XXIII trong «Hòa Bình Trên Trái Đất» giữa học thuyết sai lầm và những trào lưu lịch sử xuất phát từ đó nhằm xây dựng đời sống xã hội cách cụ thể.

Trong cả hai văn kiện nêu trên, Đức Phaolô VI đã ứng dụng phương pháp Xem– Xét– Làm.

7. Đức Gioan-Phaolô II:

Với thông điệp «Lao Động Của Con Người» (1981), ngài đào sâu chủ đề lao động và tổng hợp những nét lớn của linh đạo lao động.

Trong thông điệp «Mối Bận Tâm về Vấn Đề Xã Hội» 1987, ngài bắt mạch tình trạng xã hội 20 năm sau «Phát Triển Các Dân Tộc» và đề xuất quan điểm luân lý để thực hiện cuộc phát triển đích thực.

Với thông điệp «Bách Chu Niên» (1991), ngài thẳng thắn phê bình chủ nghĩa xã hội, mạnh mẽ cảnh cáo các nước tư bản chủ nghĩa về các lệch lạc nghiêm trọng; ngài biện hộ cho thế giới thứ ba và các nước Đông Âu. Đồng thời ngài tiếp tục khẳng định quan điểm của Giáo Hội là chọn con người làm con đường của mình và đấu tranh cho nhân phẩm, nhân quyền và quyền của các dân tộc, mà cuộc phát triển đích thực không chỉ xảy ra trong lãnh vực kinh tế, nhưng còn phải dựa trên nền tảng luân lý và tôn giáo.

II. Những đặc điểm

Nhìn chung một thế kỷ Giáo huấn xã hội của Giáo Hội, chúng ta có thể rút ra mấy đặc điểm sau đây:

A. Sự duy nhất sâu sắc:

Giữa các Đức Giáo Hoàng và Công Đồng Vatican II có một sự duy nhất sâu sắc trong quan điểm về vấn đề xã hội: vị sau dựa vào vị trước trong một sự liên tục hài hòa. Nhưng sự liên tục và duy nhất đó vẫn mang tính năng động và sáng tạo; vị sau triển khai một số tư tưởng của vị trước sâu rộng hơn hoặc tập trung chuyên đề hơn, nhưng mỗi vị luôn luôn suy nghĩ trên và từ tình hình thực tế của thời đại mình. Chính điều này làm nên tính chất lịch sử và cụ thể của giáo huấn xã hội của Giáo Hội, nói cách khác, giáo huấn đó mang tính chất mục vụ hơn là tín lý và giáo điều.

B. Những ý lực.

Có một số tư tưởng và nguyên tắc được nhắc đi nhắc lại như những ý lực:

1. Mỗi con người có phẩm giá tuyệt đối và những quyền bất khả di nhượng, nghĩa là con người luôn luôn là một chủ thể và không bao giờ là một sự vật.

2. Quyền tư hữu là chính đáng và cần thiết nhưng không tuyệt đối.

3. Mọi của cải trên trái đất là để cho mọi người hưởng dùng.

4. Quyền tư hữu phải phụ thuộc vào công ích.

5. Nguyên tắc liên đới:

+Mỗi người phải liên đới với mọi người.

+Mỗi dân tộc phải liên đới với mọi dân tộc.

+Liên đới trong sự giúp nhau phát triển, trong sự phân phối của cải, trong sự chịu trách nhiệm về nhau và về vận mệnh của cộng đồng nhân loại.

6. Cần có Nhà Nước ở cấp quốc gia và công quyền quốc tế với quyền bính hữu hiệu để tổ chức đời sống xã hôi và phục vụ công ích, nhưng phải tôn trọng nguyên tắc bổ trợ hoặc phụ đới.

Giáo Hội đặc biệt đánh giá cao chính thể dân chủ với một Nhà Nước pháp quyền (xem «Bách Chu Niên» 46,1- 2) 

7. Gia đình có giá trị ưu việt vì nó là môi trường cần thiết cho con người triển nở về đời sống thể chất cũng như tinh thần. Giáo hội luôn khẳng định những nguyên tắc bảo vệ hôn nhân, bảo vệ sự sống con người.

8. Những nguyên tắc trên đây dẫn tới một số hệ luận cụ thể:

Giáo Hội phê phán chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh còn gọi là chủ nghĩa tư bản hoang dã, vì nó:

+Dẫn tới chủ nghĩa cá nhân ích kỷ.

+Gây ra cảnh bóc lột bất công, phản lại nguyên tắc liên đới (xem điểm 5) 

Giáo Hội cũng phê phán chủ nghĩa tư bản tập thể hay chủ nghĩa xã hội tập trung vào Nhà Nước độc tôn, vì nó không tôn trọng đủ những quyền lợi chính đáng của cá nhân và của các nhóm trung gian và do đó phản lại nguyên tắc bổ trợ hoặc phụ đới (xem điểm 2,6).

Giáo Hội không chấp nhận cuộc đấu tranh giai cấp vì nó được thúc đẩy bởi hận thù phản lại lòng nhân ái và đức bác ái. Nói chung Giáo Hội không chấp nhận bạo lực, trừ trường hợp duy nhất để lật đổ bạo chúa, nhưng Giáo hội chấp nhận sự đình công như một phương thế bất bạo động để tranh đấu cho quyền lợi chính đáng của người lao động.

Giáo Hội bênh vực người nghèo và những người sống bên lề xã hội vì họ là những nhân vị có nhân phẩm phải được mọi người trân trọng.

Giáo Hội coi khía cạnh kinh tế và chính trị có giá trị tương đối phải nhường bước cho những khía cạnh khác như đời sống luân lý và tôn giáo.

Những nguyên tắc trên đây làm nên những giá trị cố hữu trong giáo huấn xã hội của Giáo Hội, được nêu ra để soi sáng tư duy và hướng dẫn hành động của các thành phần dân Chúa và mọi người thành tâm thiện chí.

C. Những tiêu chuẩn nhận định .

1. Chính Công đồng Vatican II đã khẳng định: «Lúc nào Giáo Hội cũng có bổn phận tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và giải thích các dấu chỉ đó trong ánh sáng Phúc Âm».

Cần phải biết và hiểu thế giới chúng ta đang sống, với những chờ đợi, khác vọng và cả những tính chất thường là bi thảm của nó nữa (MV 4,1) 

2. Ngoài những nguyên tắc lớn đã nêu trên (xem 2), mỗi người cần phải nhìn nhận nhứng giá trị gắn liền với nhân phẩm là:

+Chân lý – Tự do – Công bình.

+Liên đới – Hòa bình – Bác ái.

Đó là con đường vững chắc dẫn tới nền nhân bản chân chính.

3. Khôn ngoan khi dấn thân vào xã hội:

Khi xảy ra xung khắc giữa các giá trị, chúng ta khó nhất tề gắn bó được với hết mọi giá trị. Vậy cần phải biện phân để chọn lựa giải pháp tốt nhất trong từng hoàn cảnh dưới ánh sáng Phúc Âm và giáo huấn của Giáo Hội.

4. Cần đặc biệt nắm vững quan điểm:

+Đạo đức luân lý hơn kỹ thuật và hiệu năng.

+Con người hơn sự vật.

+Tinh thần hơn vật chất.

+Lao động phục vụ con người, chứ không phải ngược lại.

+Tư bản phải phục vụ cho lao động và cho con người, chứ không phải ngược lại.

5. Phải nhận biết thực tế bằng khả năng nhận định khách quan (với phương pháp Xem– Xét– Làm).

Cần cảnh giác đối với ảnh hưởng của các ý thức hệ.

Nhưng phải nhìn nhận rằng việc phân tích một cách khoa học về thực tại và về nhứng hậu quả có thể xảy ra do những chuyển biến xã hội thì không thuộc phạm vi chuyên môn của Giáo hội. Giáo Hội là chuyên gia về «Nhân đạo» (experte en humanité) như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã tuyên bố tại Liên Hiệp Quốc 1965.

d. Những chỉ dẫn hành động (Xem– Xét dẫn tới Làm) 

1. Cần tôn trọng nhân phẩm.

2. Đối thoại nghiêm túc.

3. Đấu tranh cho công bằng và tình liên đới xã hội.

4. Đào tạo những người có khả năng, đặc biệt những giáo dân:

+Nắm vững giáo huấn xã hội của Giáo hội.

+Có khả năng biện phân, nhận định và lượng định các hoàn cảnh.

+Khuyến khích họ dấn thân vào đời sống xã hội.

5. Thực hành luật bác ái và lòng trắc ẩn thương cảm, từ thiện.

6. Mở rộng tâm hồn đón nhận những ân ban của Thánh Thần để có khả năng thích ứng với hoàn cảnh một cách khôn ngoan và rút ra những ánh sáng soi dẫn hành động từ kinh nghiệm về đời sống đức tin và đời sống xã hội.

III. Lượng định

Từ kinh nghiệm 2000 năm lịch sử đời sống Giáo Hội và 100 năm lịch sử Giáo huấn xã hội của Giáo Hội, chúng ta có thể rút ra mấy kết luận sau đây:

Năm 1870 là một mốc điểm có ý nghĩa trong lịch sử Giáo Hội: nó đánh dấu sự kết liễu quyền lực trần thế của Giáo Hoàng, vì Giáo Hoàng mất hết đất đai để sở hữu từ thời Trung cổ; nhưng cũng chính năm đó, Công đồng Vatican I định tín ơn vô ngộ của Giáo Hoàng trong giáo huấn tín lý và luân lý. Từ đó Giáo Hoàng hết bận tâm về của cải vật chất và thế lực chính trị, quân sự của Toà Thánh, chỉ chú tâm chu toàn sứ mạng thiêng liêng: rao giảng sứ điệp Phúc Âm và nói lên tiếng nói của lương tri, để hướng dẫn mọi thành phần Dân Chúa và mọi người thiện chí trên thế giới tổ chức đời sống cá nhân và tập thể trên bình diện quốc gia và quốc tế.

Vì Giáo Hội đã trở nên nghèo và trở nên Giáo Hội của người nghèo bằng cách ưu tiên chọn lựa người nghèo và bênh vực quyền lợi của họ, nên tiếng nói của Giáo Hội có uy tín lớn đối với thế giới.

Bước tiến của lịch sử loài người, nhất là chuyển biến của khối xã hội chủ nghĩa chứng minh rằng quan điểm của Giáo Hội về xã hội là đúng. Tiếng nói của các Đức Giáo Hoàng và của Công đồng Vatican II được thế giới kính nể và chăm chú lắng nghe.

Các chân lý do Giáo hội công bố liên quan tới con người và đời sống xã hội không những được rút ra từ kho tàng mạc khải, mà còn phù hợp với lương tri (xem Phần II/2 của chương 9). Khi các Giáo Hoàng và Giáo hội dạy các chân lý ấy thì cũng nói lên tiếng nói của lương tri, do đó tiếng nói của Giáo hội được thế giới hiểu và chấp nhận.

Khi Giáo hội bênh vực quyền con người, thì bằng cách đó Giáo hội cũng bênh vực quyền của Thiên Chúa, vì con người mang hình ảnh Thiên Chúa (St 2,26), và vì «vinh quang của Thiên Chúa là: con người được sống cho ra người» (Thánh Irênê). Con người là mối bận tâm lớn của Giáo hội. Đức Gioan-Phaolô II thì nói: «Con người là con đường của Giáo Hội», bởi vì cuối cùng con người chính là mối bận tâm lớn của Thiên Chúa (Tv 8; Ga 3,16).

 

 

 

 

Chương 10

 

 

LINH ĐẠO LAO ĐỘNG

 

 

Đức Gioan-Phaolô II là vị Giáo Hoàng đầu tiên đưa thuật ngữ «Linh đạo lao động» (spiritualité du travaill) vào một văn kiện chính thức (thông điệp «Lao Động của Con Người» (1981), và ngài đã nêu lên những nét lớn của linh đạo ấy (24– 27). Chúng ta sẽ dựa vào đó như một khởi điểm để suy nghĩ về đề tài lớn lao hiện đại: Lao động, từ hai góc độ lịch sử và thần học.

I. Quan điểm lịch sử

Kinh Thánh là nguồn ánh sáng soi rọi tư duy của Giáo hội về các vấn đề nhân sinh và xã hội, trong đó có vấn đề lao động. Nhưng Giáo Hội đã tiến hóa trong quá trình thấu hiểu và ứng dụng ánh sáng mạc khải về lao động. Bởi vì trong thực tế Giáo Hội đã bị lây nhiễm ảnh hưởng của những triết lý xuất phát từ những môi trường ngoài Kinh Thánh, đặc biệt nền văn minh Hy lạp, La mã và văn minh vùng Lưỡng Hà Địa.

A. Lao động trí óc và lao động tay chân:

Theo quan điểm của các triết lý nêu trên, lao động chia thành hai loại: lao động trí óc và lao động tay chân, trong đó loại thứ nhất cao quý hơn loại thứ hai, và phù hợp với con người tự do, còn loại hai dành riêng cho người nô lệ. Triết gia Cicéron (106– 43 trước CN) đã diễn tả quan niệm đó trong câu nói tiêu biểu: «Tất cả mọi nghề thủ công đều là những nghề đáng khinh bỉ bởi vì xưởng thợ không có cái gì cao quý cả» (De Officiis – các chức vụ và nghề nghiệp – chương 42, trích dẫn bởi Đức Piô XI trong thông điệp «Chúa Cứu Thế», số 36).

Quan niệm tiêu cực và bi quan này về lao động chân tay thường gắn liền với một vũ trụ quan nhị nguyên, theo đó vật chất bị đánh giá là xấu, chỉ có tư tưởng và tinh thần mới tốt. Đó là lý thuyết của Zarathoustra (thế kỷ VII trước CN), đã được Manichée phổ biến ở thế kỷ III sau công nguyên tại vùng Lưỡng Hà Địa (Ba Tư). Tại Hy Lạp thế kỷ V tới IV trước CN, Platon đề xướng một chủ nghĩa duy tâm, hay đúng hơn duy ý tưởng, theo đó tâm hồn con người có khả năng vượt xa hơn sự vật khả giác để đạt tới những ý tưởng siêu hình mang tính chất hiện thực mà các sự vật khả giác chỉ là hình bóng. Do đó sinh hoạt của trí tuệ hướng về các ý tưởng siêu hình thì cao quý hơn sinh hoạt của tay chân tiếp xúc với vật chất.

Từ sự đánh giá xếp hạng đó, người ta đi tới cách phân phối: sinh hoạt trí tuệ dành cho người tự do và lao động tay chân dành cho người nô lệ. Về quan điểm này Cecêron nối dài Platon, La Mã nối dài Athen.

Giáo Hội đã sớm nhận ra sự sai lầm trong thuyết Nhị nguyên của Zarathoustra– Manichée và đã phê phán kịch liệt. Những ảnh hưởng của Platon và nhất là của Cicéron sẽ để lại dấu vết lâu dài trong nếp sống và nếp nghĩ của Giáo Hội. Bằng chứng là khoản 1248 của Bộ Giáo Luật 1917 vẫn gọi công việc tay chân là công việc của người nô lệ. Bộ Giáo Luật 1983 đã điều chỉnh quan điểm cũ đó (xem chương I, điểm V của giáo trình này).

B. Quá trình nhận thức của Giáo Hội 

về giá trị lao động.

1. Trong suốt 19 thế kỷ dài, thần học Công giáo đã không hình thành được một học thuyết tích cực về lao động. Thần học cổ truyền chỉ nêu lên khía cạnh khổ chế của lao động như một phương thế đền tội và lập công.

2. Đức Lêô XIII, vị Giáo Hoàng đầu tiên quan tâm tới vấn đề xã hội cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên chính thức nói lên một lời đánh giá tích cực về lao động: «Các nghề có thù lao theo chứng từ của lý trí và của triết lý Kitô giáo không hề làm nhục nhưng chỉ làm vinh dự cho con người vì các nghề ấy cung cấp một phương thế lương thiện để sinh sống. Điều ô nhục và phi nhân là tận dụng con người như một sự vật để sinh lợi và chỉ đánh giá họ theo sức mạnh của bắp thịt» («Tân Sự»).

3. Đức Piô XI lưu ý rằng mọi người phải quan tâm tới hai khía cạnh của lao động: «Tương tự như tư bản, lao động cũng mang tính cách cá nhân và tính cách xã hội, đó là một điều không được quên, nhất là khi nói đến các công nhân làm mướn. Lao động phải được pháp luật xã hội bảo đảm, các nghề nghiệp rất đa dạng đều liên hệ tới nhau, nên phải hòa hợp và bổ khuyết cho nhau. Lao động và tư bản phải hòa hợp với nhau để trở thành một năng lực hoạt động duy nhất» («Tứ Thập Niên», 41).

Như thế, lao động có khả năng xây dựng lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Lao động phải liên kết hài hòa với tư bản để phục vụ các lợi ích đó.

4. Theo Đức Piô XII: «Công việc lao động tiếp nối chương trình do Đấng Tạo Hóa khởi sự» (Sứ điệp Giáng sinh 1957. Xem MV 34,2; 67,2).

5. Theo Đức Gioan XXIII:

«Lao động là biểu hiện nhân cách của con người, nên sẽ là một tội nếu coi nó chỉ là một món hàng. Đối với đa số nhân loại, lao động là sinh kế duy nhất, bởi thế chủ nhân không được thanh toán thù lao công nhân như thế công việc lao động của họ là đồ mua bán ở thị trường» («Mẹ Và Thầy», 18) 

Hãy dấn thân hoạt động lao động như một cách.

+Hưởng ứng trung thành giới răn của Thiên Chúa (xem St 1,28) 

+Cộng tác vào công cuộc sáng tạo của Ngài.

+Góp phần vào việc thực hiện kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa trong lịch sử (Hòa bình 82; MV 34,2) 

6. Giáo Huấn của Công đồng Vatican II:

Trong MV 34– 35 và 67, Công Đồng Vatican II đã đúc kết giáo huấn của các Đức Giáo Hoàng từ Đức Lêô XIII đến Phaolô VI về lao động và triển khai thêm theo chiều rộng và chiều sâu. Hai số 34– 35 đề cập tới hoạt động của con người theo một nghĩa bao quát, còn số 67 tập trung vào lao động và nhấn mạnh khía cạnh lao động chân tay.

a. Giá trị của hoạt động con người.

MV 34,1: «Hoạt động của con người, cá nhân và tập thể»:

+ Là phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

+ Và là một cách tôn vinh Thánh Danh Thiên Chúa.

MV 34,2: Các hoạt động thường nhật của con người nhằm:

+Nuôi sống bản thân và gia đình (xem «Tân Sự»).

+Phục vụ xã hội («Tứ Thập Niên»,51) 

+Tiếp nối chương trình của Đấng Tạo Hóa (Piô XII).

+Phục vụ lợi ích của anh em.

+Góp công thực hiện kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa trong lịch sử (xem «Hòa Bình Trên Trái Đất», 82).

MV 34,3

+Con người không phải là đối thủ cạnh tranh với Thiên Chúa, nhưng các thành tựu của con người là một dấu chỉ quyền năng cao cả của Thiên Chúa.

+Kitô giáo khích lệ mọi người dấn thân xây dựng thế giới.

b. Trật tự của hoạt động con người.

MV 35,1 

+Hoạt động xuất phát từ con người và có khả năng biến đổi thiên nhiên.

+Hoạt động quy hướng về con người và có khả năng hoàn thiện con người. _ Thật vậy qua hoạt động 

– Con người biết thêm nhiều điều.

– Phát triển các năng khiếu.

– Thoát ra khỏi chính mình để đến với kẻ khác.

– Vượt quá chính mình để hướng lên Thiên Chúa.

+Hoạt động xây dựng hữu thể con người, làm tăng trưởng nhân phẩm, điều đó quý hơn những của cải con người có được nhờ hoạt động (Tư tưởng Đức Phalô VI).

+Gia tăng công bằng xã hội, tình huynh đệ và trật tự thì quý hơn các tiến bộ kỹ thuật (Luân lý quý hơn kỹ thuật).

MV 35,2. Tiêu chuẩn để đo giá trị của hoạt động con người là:

+Hoạt động phải phù hợp với lợi ích đích thực của con người theo ý định của Thiên Chúa.

+Phải tạo điều kiện cho con người vun trồng và hoàn tất thiên chức của mình.

c. Lao động

MV 67,1: «Lao Động Của Con Người» có vị trí ưu tiên trên các yếu tố khác của đời sống kinh tế, vì các yếu tố này chỉ có giá trị công cụ và phương tiện.

MV 67,2:

+Lao động xuất phát từ con người: qua lao động con người in dấu ấn của mình trên thiên nhiên và bắt nó phục tùng ý muốn của mình.

+Nhờ lao động, 

– Con người bảo đảm đời sống của mình và gia đình (xem MV 34,2) 

– Liên kết với anh em và phục vụ họ.

– Có thể thực thi đức bác ái chân thật.

– Và cộng tác vào việc kiện toàn chương trình sáng tạo của Thiên Chúa (xem MV 34,2).

+Nhờ hiến dâng việc lao động cho Thiên Chúa, con người liên kết mình với công cuộc cứu thế của Đức Kitô, Đấng đã nâng cao giá trị của lao động bằng chính đôi tay của mình tại Nazaret.

Từ các luận điểm trên, Công đồng rút ra bốn hệ luận:

Mỗi người đều có bổn phận và quyền lao động.

Thù lao phải bảo đảm cho người lao động và gia đình họ một đời sống xứng đáng về mặt vật chất, xã hội, văn hóa và tinh thần.

MV 67,3 – Phải thích ứng quy trình sản xuất với con người, cụ thể là với hoàn cảnh sống của mỗi người, với đời sống gia đình, với phái tính, và với tuổi tác của họ.

Phải đảm bảo thời gian nghỉ ngơi và nhàn rỗi cho người lao động.

7. Đức Phaolô VI:

Theo «Phát Triển các Dân Tộc» (số 27) 

+Lao động là một mệnh lệnh Thiên Chúa ra cho loài người và Thiên Chúa chúc lành cho lao động.

+Mỗi người khi lao động, dù là nghệ sĩ hay thủ công, chủ nhân, công nhân hay nông dân, đều làm công việc tạo dựng.

+Người lao động in dấu ấn riêng của mình vào chất liệu rắn rỏi, đồng thời trau dồi tính kiên nhẫn, tài khéo léo và óc sáng tạo.

+Nhờ lao động con người khám phá ra mình là anh em với nhau (Liên đới – đoàn kết – chia sẻ).

«Phát Triển Các Dân Tộc» (số 28) nêu lên tính dị nghĩa, hàm hồ của lao động

– Lao động hứa hẹn tiền tài, lạc thú, thế lực, có thể đưa đẩy tới ích kỷ hoặc nổi loạn.

– Nhưng lao động cũng phát huy lương tâm nghề nghiệp, ý thức bổn phận và tình thương đối với cận nhân.

+Người ta có thể trở thành nô lệ của lao động.

– Lao động chỉ mang tính nhân bản khi con người làm việc một cách thông minh và tự do.

– Phải trả lại phẩm giá cho lao động 

– Phải để cho người lao động tham gia vào công việc chung của xí nghiệp.

– Biến xí nghiệp thành một cộng đoàn người (có tính người và tình người – tư tưởng của Đức Gioan XXIII).

+Đối với Kitô hữu, lao động còn có sứ mạng cộng tác vào việc xây dựng một thế giới siêu nhiên hướng tới sự viên mãn của Đức Kitô.

8. Đức Gioan-Phaolô II, thông điệp lao động con người, đã chỉ rõ:

Giáo Hội tìm thấy trong những trang đầu của sách Sáng thế niềm xác tín rằng lao động là một chiều kích căn bản của con người trên trái đất. Đó là:

+Một xác tín của Đức tin dựa vào lời mạc khải của Thiên Chúa.

+Đồng thời là một xác tín của tri thức dựa vào kinh nghiệm lịch sử (số 4) 

Đức Giáo Hoàng phân tích ý nghĩa của lao động dựa vào Sáng thế 1,28 «Hãy chế ngự trái đất», thành hai khía cạnh:

a)Khía cạnh khách quan của lao động (xem số 5) Xuất hiện trong sự kiện con người dùng lao động để làm chủ trái đất và các tạo vật trong thiên nhiên.

– Đó là khía cạnh hiệu năng và kết quả của lao động.

– Đó còn là việc sử dụng máy móc để tăng hiệu năng lao động.

b)Khía cạnh chủ quan của lao động (xem số 6):

– Con người là chủ thể của lao động theo nghĩa lao động xuất phát từ con người và quy hướng về con người (xem MV 35,1). Con người làm chủ lao động và con người cũng là căn bản đầu tiên để định giá lao động.

– Có lao động là vì con người (lao động phục vụ con người) chứ không phải con người sinh ra cốt để lao động (không phải con người phục vụ cho lao động).

Từ đó Đức Giáo Hoàng khẳng định quan điểm luân lý:

– Nhân phẩm và hạnh phúc của con người có vị trí ưu tiên trên kỹ thuật và hiệu năng, do đó không thể chấp nhận việc «vật chất rời khỏi nhà máy thì được nâng cao phẩm chất, trong lúc con người rời khỏi nhà máy trong tình trạng mất nhân phẩm» (Đức Piô XI – «Tứ Thập Niên»).

– Tư bản phục vụ cho lao động và con người chứ không phải con người và lao động phục cho tư bản.

c)Sự mệt nhọc của lao động (số 9) (xem St 3,19: mồ hôi trán):

– Sau khi phạm tội, con người vẫn tiếp tục mang hình ảnh của Thiên Chúa (St 1,26-27;5,1-3).

– Sự mệt nhọc – như là hình phạt của tội lỗi – vẫn không thay đổi sứ mạng của con người là chế ngự trái đất (St 1,28) 

– Trong thực tế, mặc dầu có mệt nhọc, và có lẽ chính vì mệt nhọc mà lao động là một lợi ích của con người, một «lợi ích cực nhọc» (un bien ardu).

– Cần hiểu lợi ích đó không phải chỉ theo nghĩa một lợi ích hữu dụng mà người ta có thể thụ hưởng, nhưng còn theo nghĩa một lợi ích xứng đáng, tương ứng với nhân phẩm, nghĩa là một lợi ích biểu lộ và gia tăng nhân phẩm trong nổ lực của con người để chế ngự trái đất.

Lao động là một lợi ích của con người vì:

– Nhờ lao động, con người biển đổi thiên nhiên và chế ngự trái đất.

– Đồng thời con người tự hoàn thiện, tự thể hiện chính mình.

C. Kết luận:

Từ một thế kỷ nay, nhất là từ thời Đức Piô XII, Giáo huấn chính thức của Giáo Hội đã từng bước nêu cao giá trị tích cực của lao động.

Nhìn dưới góc độ nhân vị là chủ thể của lao động (khía cạnh nhân học).

Nhìn dưới góc độ tương quan giữa người lao động với gia đình, với các đồng nghiệp và chủ nhân (khía cạnh xã hội).

Nhìn dưới góc độ quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động (khía cạnh luân lý và pháp lý).

Nhìn dưới góc độ tương quan của người lao động với thế giới vật chất (khía cạnh vũ trụ quan).

Và cuối cùng nhìn dưới góc độ tương quan với Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và Cứu Chuộc (khía cạnh thần học).

Linh đạo lao động tổng hợp tất cả các khía cạnh trên đây và dĩ nhiên nhấn mạnh quan điểm thần học, nhưng là một thần học thực tiễn dẫn tới thái độ sống cụ thể.

II. Quan điểm thần học

A. Của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II 

trong thông điệp Lao động 

1. Lao động xét trên phương diện sự tham gia vào công việc của Đấng Tạo Hóa (số 25).

Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (xem St 1,26-27).

Vì Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa nên con người cũng mang trong mình khả năng sáng tạo. Con người tiếp tục phát triển và bổ túc công việc tạo dựng bằng cách luôn tiến xa hơn nữa trong việc khám phá những tài nguyên và những giá trị tiềm tàng trong toàn bộ thế giới.

Theo St 2,2-3 công cuộc tạo thành được trình bày như một công việc của Thiên Chúa làm trong sáu ngày và kết thúc bằng sự nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy: mọi sự đều tốt lành.

St chương 1– 2 là Tin mừng đầu tiên về lao động: con người phải noi gương Thiên Chúa trong việc lao động và nghỉ ngơi.

«Cha Thầy luôn luôn hoạt động» (Ga 5,17).

+Với quyền năng sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên mọi sự từ hư vô và không ngừng bảo tồn chúng.

+Với quyền năng cứu độ, Ngài hoạt động trong tâm hồn con người, để tạo ra một tâm trạng bên trong phù hợp với Thánh ý Thiên Chúa, và chuẩn bị cho sự nghỉ ngơi mà Ngài đã dự tính từ nguyên thủy (xem Dt 4,1-10).

«Trong Nhà Cha» (xem Ga 14,2) là nơi dành cho các tôi tớ bạn hữu của Ngài (xem Mt 25,21).

2. Đức Kitô, con người của lao động (số 26) 

Đức Kitô có sứ mạng rao giảng Tin mừng, và đó là một «Tin mừng lao động», vì người rao giảng tin mừng ấy chính là một người lao động (xem Mc 6,2-3; Mt 25,21) 

Ngài thuộc giới lao động, làm nghề thợ mộc. Ngài cùng lao động để tham gia vào chính công trình của Thiên Chúa Tạo Hóa: «Cha tôi làm việc liên lỉ, tôi cũng vậy» (Ga 5,17). Ngài lao động bằng chân tay tại Nazarét và rao giảng công khai ba năm tại nước Palestin.

Trong các dụ ngôn về Nước Trời, Ngài luôn nói về lao động: Ngài so sánh công cuộc truyền giáo với việc gặt lúa (Mt 9,37) hoặc đánh cá (Mt 4,19).

Thánh Phaolô tiếp nối kinh nghiệm và quan niệm của Đức Kitô về lao động.

+Thánh nhân làm nghề may lều vải (xem Cv 18,3); để tự mưu sinh (Cv 20,34-35; 2 Tx 3,8).

+Ngài dạy chúng ta:

– Hãy lao động và ăn bánh của mình làm ra (2 Tx 3,12).

– Ai không lao động thì đừng ăn (2 Tx 3,10).

– Hãy làm mọi việc vì Thiên Chúa (Cl 3,23-24).

3. «Lao Động Của Con Người» nhìn dưới ánh sáng thập giá và Phục Sinh của Đức Kitô (số 27).

Mọi việc lao động trí óc hoặc chân tay đều gắn liền với sự vất vả mệt nhọc.

Vất vả là một cách tham dự vào mầu nhiệm thập giá, chấp nhận vất vả là vác thập giá hằng ngày đi theo Chúa Kitô và trở thành môn đệ Ngài (Lc 9,23). Thập giá là một yếu tố cần thiết của linh đạo lao động.

Lao động vất vả đem lại một lợi ích mới, lợi ích này là một phần nhỏ của «đất mới» nơi công lý ngự trị (xem 2Pr 3,13) do hậu quả của mầu nhiệm Phục Sinh.

Niềm hy vọng chờ đợi trời đất mới vẫn kích thích việc phát triển trái đất này, nơi mà thân thể của gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời đại mới, thời đại cánh chung. Nhưng các tiến bộ trần thế không đồng nghĩa với sự mở rộng Vương Quyền của Đức Kitô, mặc dù chúng rất quan trọng đối với Nước Trời (xem MV 39).

B. Vài suy nghĩ tiếp theo:

Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã gọi các chương 1– 2 của sách Sáng thế là Tin Mừng đầu tiên về lao động, nhưng để xây dựng linh đạo lao động, ngài chỉ khai thác chương 1. Vậy chúng ta có thể khai thác thêm chương 2 để bổ túc cho chương 1.

Theo các nhà chú giải Kinh Thánh, hiện tại chương 1 thuộc tài liệu P (Priest Codex) do một nhóm tư tế thu thập hoặc soạn thảo vào khoảng thế kỷ V trước CN tại Gierusalem, còn St 2 thuộc truyền thống J (Jahwist) kỳ cựu hơn P (vào thời David– Salomon, thế kỷ X). Hai truyền thống hoặc hai tài liệu đó đã trình bày chân tính con người theo những cách đặc biệt.

1. Mẫu người theo truyền thống P được phản ánh trong St 1, mang năm đặc điểm:

a)Con người mang hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26) 

b)Con người mang tính liên vị hoặc tính xã hội (St 1,27), với nhu cầu được tha nhân bổ túc và bổ túc cho tha nhân. Sự bổ túc căn bản xảy ra ở bình diện phái tính và nhiều bình diện khác nữa.

c)Con người có khả năng sáng tạo làm tăng trưởng sự sống, trước tiên là sự sống thể lý (xem St 1,28), rồi các hình thức khác của sự sống như đời sống tinh thần, văn hóa, tôn giáo …

d)Con người có khả năng làm chủ (St 1,28b) lấp đầy trái đất và chế ngự nó.

e)Con người với tính cách tập thể được Thiên Chúa ban cho quyền sử dụng mọi thực phẩm, và hiểu rộng ra sử dụng tất cả mọi tài nguyên của trái đất (St 1,29).

Tài liệu P đã xác định chân tính, phẩm giá, sứ mạng và quyền lợi của con người, nhưng sự xác định đó liên quan tới bình diện hữu thể, chưa chuyển sang bình diện hành động. Nhìn chung P có xu hướng lý luận trừu tượng và nêu lên những nguyên tắc.

2. Mẫu người theo truyền thống J (Jahwist) được phản ánh trong chương 2:

Khác với P, truyền thống J có xu hướng mô tả con người cách cụ thể, sống động và bình dân. Mẫu người theo J được trình bày trên bình diện hành động với năm đặc điểm sau:

a. Con người được làm bằng đất, nhưng nhận được hơi thở của Thiên Chúa (St 2,7). Bằng cách đó J diễn tả cùng một lúc sự giới hạn và phẩm giá cao quý của con người: vừa giống các sinh vật khác cũng được làm bằng đất (xem St 2,19) vừa giống Thiên Chúa vì nhận được sinh khí của Ngài (St 2,7; đối chiếu với xem St 1,26a) 

b. Con người được giao cho sứ mạng canh tác và gìn giữ vườn Eđen tượng trương cho trái đất (St 2,15). Đây là cách cụ thể hóa sứ mạng làm chủ và 

 chế ngự trái đất (xem St 1,28b).

c. Con người có quyền sử dụng mọi thực phẩm (St 2,16), nhưng có bổn phận vâng lời Thiên Chúa và chấp nhận vị trí giới hạn của mình (St 2,17, đối chiếu với 1,24) 

d. Con người được Thiên Chúa ban cho khả năng gọi và đặt tên cho vạn vật (St 2,19– 20). Đặt tên cho một sự vật nào là một cách thi hành quyền làm chủ trên sự vật đó. Việc đặt tên cũng bao hàm sự hiểu biết đối tượng. Đây là quyền làm chủ đi kèm với khả năng tri thức và sáng tạo (xem St 1,28a).

e. Con người mang tính liên đới hoặc tính xã hội với nhu cầu bổ túc cho nhau trên bình diện phái tính. Cách trình bày của J rất gợi hình: việc tạo dựng người đàn bà từ xương sườn người đàn ông nói lên rằng hai người có chung một bản tính. Đó là nền tảng của sự bình đẳng, sự bổ túc cho nhau, sự hiệp nhất trong đời sống vợ chồng (St 2,21– 23) và trong đời sống xã hội (xem St 1,27).

3. Mẫu người tổng hợp theo Kinh Thánh.

Hai mẫu người trên đây mang những yếu tố giống nhau nhưng được trình bày theo hai cách khác nhau. Khi soạn giả chung kết của sách Sáng thế ghép hai trình thuật P và J lại với nhau là có ý tôn trọng cả hai cách trình bày đó và muốn tổng hợp thành một mẫu người duy nhất: mẫu người Thánh Kinh. Từ đó chúng ta có thể rút ra công thức sau đây:

P/a– J/a: Con người là tạo vật từ bụi đất được nâng lên hàng nhân vị mang hình ảnh Thiên Chúa.

P/b– J/e: Con người là một ngôi vị hướng về tha ngã, nghĩa là một tạo vật mang tính liên vị và tính xã hội.

P/c– J/d: Con người có khả năng sáng tạo, hiểu biết và đặt tên cho vạn vật.

P/d– J/b: Con người có quyền, nhiệm vụ và khả năng làm chủ vạn vật bằng cách canh tác và canh giữ trái đất.

P/e– J/c: Mọi người có quyền hưởng dùng mọi tạo vật khác, đó là các sinh vật, thực vật và các tài nguyên thiên nhiên.

4. Linh đạo lao động theo truyền thống J:

Đức Gioan-Phaolô II đã khai thác truyền thống P trong St 1 để xây dựng linh đạo lao động của ngài. Nếu khai thác truyền thống J đặc biệt St 2,15 chúng ta sẽ có thêm những ánh sáng sau đây:

a. Con người có nhiệm vụ canh tác (colere– cultiver) trái đất .

Động từ colere bao hàm dạng từ cultum (thể supin theo văn phạm La-tinh), đó là nguồn gốc của hai từ tiếng Pháp culture và culte.

Từ culture có nhiều cấp độ ý nghĩa:

+Theo nghĩa đen và hẹp: culture là việc canh tác đất đai và trồng trọt hoa màu, việc đó vận dụng ưu tiên khả năng lao động chân tay của con người.

+Theo nghĩa bóng và rộng, culture là văn hóa với hai khía cạnh:

– Khía cạnh chủ quan: văn hóa là khả năng lao động trí óc và tích lũy kiến thức.

– Khía cạnh khách quan: văn hóa là thành quả của lao động trí óc và chân tay của con người cá thể và của cả tập thể loài người nhằm tổ chức thiên nhiên và xã hội thành «ngôi nhà» thích hợp, trong đó con người cảm thấy an toàn và hạnh phúc. Văn hóa theo nghĩa khách quan này cũng đồng nghĩa với văn minh.

Từ Culte có nghĩa là Phụng tự, là hành vi tôn giáo của con người tin vào Thiên Chúa Tạo Hóa; biết ơn Ngài, tôn vinh Ngài, yêu mến Ngài và thi hành Thánh ý Ngài.

Phụng tự, văn hóa (theo nghĩa khách quan và chủ quan), cũng như việc canh tác trồng trọt (tượng trưng cho sinh hoạt kinh tế), đều xuất phát từ động từ colere trong mệnh lệnh của Thiên Chúa (xem St 2,15), nên có liên hệ mật thiết với nhau. Do đó phụng tự và tôn giáo phải thấm nhập vào văn hóa và kinh tế đến nỗi đời sống văn hóa và kinh tế của con người trở thành hành vi tôn vinh Thiên Chúa.

Cách nhìn này mang lại cho lao động tính tích cực, lạc quan và cởi mở. Nói chung, linh đạo đó mang tính chất nhập thể và nhập thế (Theo hướng của Cha Teilhard de Chardin, và nhất của Công đồng Vatican II) 

b. Nhiệm vụ canh giữ (custodire) trái đất.

Ý nghĩa của nhiệm vụ này rất hợp thời. Đây là nền tảng Thánh Kinh của khoa môi sinh học hoặc sinh thái học (Écologie) ngày nay đang là một mối bận tâm lớn của cả thế giới.

Kinh Thánh cho thấy rằng Thiên Chúa muốn:

Con người dùng trí tuệ và lao động để làm chủ trái đất, nhưng phải tôn trọng trật tự thiên nhiên do Ngài đã thiết lập. Con người có nhiệm vụ canh tác, nhưng cũng phải canh giữ trái đất cho khỏi bị hư hỏng (chúng ta hãy nghĩ tới hiện tượng ô nhiễm thiên nhiên, phá rừng, làm tuyệt chủng một số giống vật, làm thủng vành đai ôzôn quanh trái đất, hiệu ứng nhà kính … ) 

Con người phải lao động để sống, để xây dựng tình liên đới huynh đệ, và không chỉ để tôn vinh bản thân mình và tập thể loài người, nhưng còn để tôn vinh Thiên Chúa là người chủ đích thực của thiên nhiên, của nhân loại và toàn bộ lịch sử loài người.

 

 

 

Comments

Popular posts from this blog

Cảm nghĩ về vụ Giám mục Nguyễn Hữu Long và Linh mục Đặng Hữu Nam

Làm sao biết được ai đúng ai sai?

«Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế» (Mt 9:13)